SỰ THÔNG MINH ÂN CẦN (P1)

Nửa thế kỷ trước, khi thấy tôi thắc mắc về nội dung của sự thông minh, thân phụ tôi không giúp tôi định nghĩa sự thông minh là gì, mà chỉ nhắc nhở tôi một câu: «Muốn đi tìm nội dung rồi định nghĩa để hiểu giá trị của sự thông minh thì cứ đi tìm, có khi dành cả đời để hiểu nó cũng không bỏ công, nhưng hình như người thật sự thông minh là kẻ tạo điều kiện cho người khác thông minh bằng mình!». Nửa thế kỷ sau ngay Paris, tôi tổ chức một hội thảo quốc tế tại Thư Viện Quốc Gia, với các đồng nghiệp nhiều chuyên ngành của khoa học xã hội và nhân văn, được trợ lực bởi các sư huynh của tôi trong các ngành đang được vinh danh như ngôn ngữ học, nhân học, xã hội học, tâm lý học… với sự trợ duyên của các sư phụ của tôi trong các ngành chủ đạo như chính trị học, sử học, triết học, văn học…
Ngày cuối là tổng kết hội thảo, lý gần tìm luận xa mà cũng là cơ duyên lành để tôi tái ngộ với câu chuyện về nội dung, định nghĩa, giá trị của sự thông minh, tôi đưa đẩy để các sư phụ cùng các sư huynh giúp tôi ra khỏi mê hồn trận về hằng số, hàm số và ẩn số của sự thông minh. Thì bạn tôi là triết gia F.Jullien, giờ đã là một ngân hà đặc sắc trên vòm trời triết học hiện đại với tri thức đặc thù của triết liên văn hóa, có phát biểu: «Sự thông minh phải được định vị và định hình bằng chính nội công và bản lĩnh trong chính hành tác hằng ngày của nó, cụ thể là nó đi thong thong, nó về ung dung, nó ngồi thoải mái, nó nằm thư thả với tất các sự thông minh đã được thừa nhận».
Đã hơn nửa thế kỷ, lời dặn dò của thân sinh, lời trần tình của một triết gia vừa là thân hữu, vừa là sư huynh đã hội tụ lại trong sự liên kết giữa cái tôi và tha nhân, mà chân trời của sự hội tụ này là: sự thông minh nếu là sự hiểu biết vừa sắc, vừa nhọn của một cá nhân, thì sẽ không có sự thông minh nếu không có tha nhân. Tha nhân vừa là mực thước, vừa là tầm vóc của sự thông minh, tha nhân mang cùng lúc hằng số, hàm số và ẩn số của sự thông minh, và chính tha nhân là đường đi nước bước để nhận diện rồi nhận dạng ra sự thông minh. Đây cũng là câu chuyện học thật qua trau dồi đèn sách, mà cũng là câu chuyện học lực của mài sắt nên kim trong cuộc đời học thuật, chính các thuật ngữ học thật-học lực giờ đã thành một phương trình cho học kiếp, để tách cái học thật ra khỏi cái học giả.
Những ai đã biến phương trình cho học kiếp là học thật-học lực-học thuật trở thành nhân sinh quan rồi thành thế giới quan cả vũ trụ quan của mình thì rất ngạc nhiên về thảm trạng của Việt tộc hiện nay với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả đã sinh đôi ra hai quái thai là học vị giả và học hàm giả để sử dụng trong chuyện mua bằng bán cấp, để tận dụng trong chuyện mua chức bán quyền. Mà hiện nạn là sự hiểu biết vừa là bàn đạp, vừa là dàn nhún cho sự thông minh đã bị thanh trừng ngay trên thượng nguồn, để cho hậu nạn là sự thông minh bị thủ tiêu, bị bóp chết ngay trong trứng nước, dưới một chế độ độc đảng toàn trị đang chủ đạo để chủ trì ngu dân trị. Độc đảng mê muội trong độc tài nhưng bất tài trong tổ chức giáo dục bằng học thật-học lực-học thuật. Độc quyền nhưng hoạn quyền trong giáo dưỡng từ trau dồi đèn sách tới mài sắt nên kim vì học luyện. Độc đảng mê chấp trong độc trị nhưng hoàn toàn nhưng không biết quản trị tính liên kết giữa giáo dục-giáo khoa-giáo trình-giáo án trong học tập. Độc đảng mê hoại trong độc tôn nhưng không biết gì về tôn ti trật tự đã có sẵn trong bể học là học tập trong khiêm tốn, có học lực trong khiêm cẩn, bằng học thuật trong khiêm luận của «Người khôn chưa đẳn đã đo/ Chưa ra tới biển đã dò nông sâu».
Chúng ta có thể khởi hành đi tìm gốc, rễ, cội, nguồn của sự thông minh trong các văn tự của cổ triết, cổ văn, cổ sử của Hy Lạp từ Socrate tới Platon và nhiều thế hệ sau nữa, họ thường xuyên gởi sự thông minh vào lòng tin của họ nơi Thượng đế. Những kẻ khiếm não cổ súy cho duy vật biện chứng hay lý luận khiếm thức là học thuật tùy thuộc vào khoa học sao lại mang niềm tin nơi Thượng đế để mê tín hóa khoa học. Khi nghiên cứu toàn bộ từ cổ triết tới hiện triết, bằng những minh sư của triết học từ Pascal tới Kant, rồi từ Levinas tới Ricoeur… thì những triết gia này chính là những đứa con tin yêu của triết học đã nối kết siêu hình học vào lập luận của triết học, rồi họ mời ta đi trên một nhân lộ thông minh, nơi mà con người không hề cúi đầu tuân lệnh một cách vô điều kiện Thượng đế hay bất cứ một đấng quyền năng nào.
Ngược lại, các minh sư triết học này đã biết đặt Thượng đế vào lộ trình của nhân tri đi tìm sự thật, mà trên lộ trình này thì Thượng đế là một giả thuyết luận tuyệt vời, một phương trình toán tuyệt năng, một luận thức triết tuyệt đối. Augustin là một trong những tư tưởng gia mà triết học đã biết dựa vào để nhận diện ra tầm vóc của Thượng đế qua giả thuyết luận tuyệt vời-một phương trình toán tuyệt năng-một luận thức triết tuyệt đối, ông chỉ khuyên nhân sinh: «Hãy cứ tiến tới trên nhân lộ của chính mình, nếu nhân lộ này làm ra nhân tri, thì nhân lộ này chỉ xuất hiện với chính những bước chân của nhân sinh». Ai tin Thượng đế hơn Augustin? Vậy mà ông xem câu chuyện đi tìm sự thông minh chính là câu chuyện của nhân sinh trên nhân lộ của nhân tri, chớ không hề là câu chuyện phải phục tùng bằng vô minh, rồi khuất phục bằng vô tri trước Thượng đế. Nhắc tới Thượng đế thì cũng nên nhắc tới Phật học, nơi mà Phật giáo ngay thượng nguồn là một minh triết trước nỗi khổ niềm đau của nhân sinh, không hề là tôn giáo với một Thượng đế đầy quyền năng biết sáng tạo ra sự sống. Cho nên thử thách của Phật học không hề là một niềm tin vô điều kiện về đấng quyền năng sáng tạo ra con người và cuộc sống, mà là sự tỉnh thức chính là nền, móng của sự hiểu biết chính là tường, mái của sự thông minh. Một sự tỉnh thức để thấy tức khắc thực tại, để thấu tức thì phương pháp giải thích mà tiếp nhận đúng lúc từ kiến thức tới tri thức, từ ý thức tới nhận thức, đây chính là sự thử thách của mọi cá nhân để nhận diện rồi nhận dạng ra sự thông minh.
Trong cuộc đời của một thi sĩ có ảnh hưởng vừa sâu, vừa rộng trong thi ca Pháp trong thế kỷ XX, đó là thi sĩ Char nơi mà thi tính tới từ bản lai diện mục của sự tỉnh thức, không có sự thông minh nếu không có sự tỉnh thức. Giữa thế chiến thứ hai, quê hương Pháp của ông đã bị Đức quốc xã chiếm đóng, một ngày kia bọn sát nhân Đức quốc xã mang một thanh niên của kháng chiến Pháp ra hành quyết trước dân làng, lấy bạo quyền giết người vừa để hù dọa, vừa cảnh cáo dân làng. Mà bọn Đức quốc xã này không biết là chúng đang bị bao vây bởi đội kháng chiến mà Char là đội trưởng. Và tất cả đồng đội chỉ chờ Char ra lệnh là họ sẽ nổ súng để cứu nguy rồi cứu sống người thanh niên đang đứng trước mũi súng của bọn Đức quốc xã. Char rơi nước mắt mà tâm sự với các đồng đội là: «Chúng ta sẽ không nổ súng cứu bạn thanh niên kháng chiến kia, anh ấy vừa là đồng đội, vừa là văn hữu của tôi, là người tôi vô cùng thương quý, nhưng chúng ta sẽ không nổ súng để cứu bạn. Vì nếu chúng ta nổ súng để diệt bọn Đức quốc xã này thì chúng sẽ trở lại đông hơn, nhiều hơn để tàn sát cả làng này, lúc đó chúng ta không chỉ mất một sinh mạng, mà hằng trăm sinh mạng!». Trong nguy nan, sự tỉnh thức xuất hiện để đánh thức cho bằng được sự thông minh để cân, đo, đong, đếm tới nơi tới chốn các hậu quả, các hậu nạn.
Triết gia làm cầu nối giữa hiện tượng luận và triết học là Merleau-Ponti ông luôn xem để xét sự thông minh ngay trong chính quan hệ giữa nhân sinh, ngay trong chính tương quan giữa nhân gian, ngay trong chính tương tác giữa nhân thế. Ông chỉ kể một chuyện rất gọn để làm rõ phương trình quan hệ-tương quan-tương tác giữa người với người, dù là người này xa lạ với người kia, câu chuyện người cũng chính là câu chuyện đời. Ông không phải là triết gia trong tháp ngà, ngồi nhà viết sách, mà phương châm đi một ngày đàng học một sàng khôn chính là đường đi nẻo về của triết lộ mà ông hành tác cả đời, ông kể với các môn sinh: «Một ngày kia tôi lạc giữa một sa mạc mênh mông tại Phi châu, tôi tìm mãi mới ra một nơi có bóng mát để nghỉ chân và nghỉ mệt, thì có một người phụ nữ đi từ xa tới, tới gần tôi thì tôi thấy một nụ cười thân thiện nở trên khuôn mặt của người hoàn toàn xa lạ này. Nếu hai kẻ không biết nhau, nhưng nụ cười xuất hiện thì mọi sự xa lạ của hai kẻ xa lạ đã được xóa đi. Dù chưa hề quen nhau, nhưng nụ cười đã vượt lên mọi cách biệt về văn hóa, về quan hệ, làm mọi khoảng cách tự tan biến đi để sự ân cần xuất hiện». Tha nhân đã xuất hiện để tiếp rồi đón ta trong những hoạn nạn, sự thông minh ân cần là sự hiểu biết có thể cứu được người trong hoạn nạn.
Người khôn hoặc kẻ thật sự thông minh thì phải thấy cho thấu là nụ cười đã mở đường đưa lối để ta nhận ra sự ân cần, nếu hiểu được sự ân cần thì sẽ hiểu tính đoàn kết trong nhân đạo, tính tương trợ trong nhân từ. Nhưng kẻ tự cho mình là thông minh lấy trục lợi để vụ lợi, lấy quyền lợi làm tư lợi, những kẻ đó chúng ta không biết rằng họ thật sự có thông minh hay không, nhưng chúng ta thấy họ đang làm cho chúng ta lợm giọng tới buồn nôn. Đó là đám lãnh đạo với bầy sâu của chúng chung quanh ĐCSVN hiện nay, chúng tham quyền vì đặc quyền, chúng lạm quyền để tạo đặc lợi, chúng cuồng quyền để giữ đặc ân. Đám sâu này, chúng không biết sự ân cần với tha nhân, tính đoàn kết với đồng loại, tính tương trợ với đồng bào. Chắc chắn đây không phải là sự thông minh mà chỉ là tà tính trong tà kiếp, tổ tiên Việt đã dặn dò con cháu Việt hãy cẩn thận: khôn quá hóa dại. Đám lãnh đạo với bầy sâu của chúng chung quanh ĐCSVN hiện nay đã ngu dại hóa sự thông minh, khi chúng đã điếm nhục hóa giáo lý tương thân tương trợ của Việt tộc.
Trong ngôn ngữ học lẫn trong phê bình văn học, người đọc còn nhớ Barthes đã chế tác ra các mỹ luận để thấy cho thấu mỹ quan, mỹ thuật, mỹ học, nơi mà sự thông minh đã biết làm rõ, làm sáng cái đẹp. Nhưng Barthes là một minh sư có những luận thuyết mà con người phải dùng sự tinh tế để nhận diện ra sự thông minh, ông dặn các môn sinh: «Cái lịch sự trong giao tế với tha nhân còn thông minh hơn cả sự thông minh!». Cái lịch sự làm nên cái lịch thiệp của người được giáo dục tử tế, được giáo dưỡng đàng hoàng, đây chính là cái lịch lãm của từ tốn trong giao tiếp, của khiêm tốn trong quan hệ. Nơi đây sự khoe khoang về cái tôi không hề có chỗ đứng, ghế ngồi khi chúng ta chào đón rồi tiếp đãi tha nhân. Cái biết nghiêng mình chào khách nó thông minh hơn nhiều lần cái tôi vỗ ngực ta đây, khi ta nghiêng mình chào tha nhân tức là ta đang gạt đi cái thông minh của riêng ta qua một bên, để sẵn sàng tiếp nhận cái thông minh của tha nhân sẽ làm giàu nhân sinh quan của ta. Khi ta hiếu khách vì trọng khách tức là ta đang phong phú hóa thế giới quan của ta. Khi ta quý khách vì nể khách tức là ta đang đa tri hóa vũ quan của ta. Vì nội lực làm nên bản lĩnh của sự thông minh luôn đa nguyên, chỉ có đa nguyên mới sinh ra được: đa tri, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu…
Triết gia đi đầu trong việc lập cầu nối giữa hiện tượng luận và triết học đạo đức là Levinas, thầy đã tạo dựng ra một hệ thống triết học mới dựa hoàn toàn vào tha nhân để nhân ra cá thể, nơi mà nhân diện và nhân dạng của tha nhân biết làm nên nhân cách của chúng ta. Nơi đây sự xuất hiện của tha nhân làm thay đổi nhân sinh quan của ta, sự hiện diện của tha nhân làm chuyển đổi thế giới quan của ta, sự biểu hiện của tha nhân làm biến đổi vũ trụ quan của ta, thầy đúc kết gọn trong một thuật ngữ: «Nỗi lo của mỗi chúng ta tới tự khuôn mặt của tha nhân». Vì tha nhân báo hiệu cho chúng ta biết giữa nhân sinh cái ác đã xuất hiện với bạo quyền. Tha nhân báo tin cho chúng ta biết giữa nhân gian thì cái gian đang hoành hành; tha nhân báo động cho chúng ta biết giữa nhân thế thì cái tà đang điếm ngự nhân tính. Đây là thử thách về sự thông minh cho mỗi công dân Việt hiện nay trước thảm cảnh: bạo quyền công an trị đang bám, quấn, siết nhân kiếp Việt tộc; tà quyền tham nhũng trị đang chui, luồn, lách vào hơi thở giống nòi; ma quyền tham tiền trị đang nạo, vét, vơ tài nguyên, thiên nhiên, đất nước của tổ tiên; quỷ quyền ngu dân trị xóa mắt, lấp tai, chặn lời đồng bào; xảo quyền tuyên truyền trị ác giọng, độc lưỡi, điếm môi tiếng Việt; cực quyền tội ác trị truy cho cùng, triệt cho tận nhân nghĩa Việt; cuồng quyền thanh trừng trị thanh toán để thủ tiêu nhân đạo Việt.

SỰ THÔNG MINH ÂN CẦN (P2)

Lê Hữu Khóa
Giáo sư Đại học* Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu việt nam học của Lê Hữu Khóa có thể tham khảo qua facebook VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa).

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s