Chúng ta thường thấy đa số mọi người tránh né chuyện chính trị tuy rằng sống dưới chế độ dân chủ. Điều đó cho thấy rằng ai cũng muốn sống dưới chế độ dân chủ nhưng sự tham gia để bảo vệ cơ chế đó rất yếu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguy cơ đó mà chúng ta có thể thấy ngay trong xã hội Mỹ hiện giờ. Sự hiểu lầm các từ ngữ tự do, dân chủ, hiến pháp … là thường tình; nhưng nguồn gốc bắt đầu từ hiến pháp khi các nhà lập hiến suy nghĩ và thiết kế cơ cấu chính quyền tương lai đã nghĩ gì về con người, luật pháp, xã hội và thiên nhiên? Một khi hiến pháp thành hình thì sai lầm hay thiếu sót rất khó sửa khi hoàn cảnh lúc lập hiến khác với hoàn cảnh xã hội sau này khi các biến cố xảy ra mà tiền nhân chưa (hay không nghĩ tới). Người Việt hải ngoại cần học bài học dân chủ Mỹ để tránh sai lầm khi lập hiến cho một Việt Nam tương lai trên con đường dân chủ.
Chính trị
Chính trị là mọi mặt sinh hoạt trong đời sống con người chứ không riêng gì việc nắm chính quyền. Nếu hiểu rằng “thiết kế và điều hành nhân sinh” thì sinh hoạt của mọi người trong xã hội dẫn đến sự (đòi hỏi) thành lập một chính quyền. Do tập thể đóng góp thì phải chính đáng và công bằng. Đó là lý do mọi người phải góp phần (ý kiến) mà bất kỳ lý lẽ gì để từ chối là trốn tránh trách nhiệm.
Một khi đã không có trách nhiệm tức là đã bỏ qua nhiệm vụ xây dựng dân chủ thì mất quyền lợi hay trở thành “công dân hạng 2” cùng với nguy cơ khi cơ chế dân chủ thoái hóa và độc tài xuất hiện thì khó mà tái lập nền dân chủ trở lại. Lẽ thường tình là khi bị chà đạp, áp bức thì mới có đấu tranh (hay bỏ chạy) nhưng khi no ấm thì lại muốn hưởng thụ nhiều hơn. Một khi chạy theo sở thích (làm giàu, hưởng thụ) thì không còn quan tâm đến chính trị hay mưu đồ chính trị vì lợi ích cá nhân hơn là cho xã hội.
Chính trị là sinh hoạt phức tạp trong đời sống con người vì liên quan đến mọi mặt và ngược lại mọi khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày đã là chính trị rồi. Sự thay đổi từ quân chủ sang dân chủ chỉ là thay đổi cơ chế nhưng chính yếu vẫn là con người. Và con người khác nhau ở kiến thức và hành động. Căn bản của chính trị vẫn là “chính” và “trị”. “Chính” là suy nghĩ, tư tưởng có đúng, chính đáng hay không? Và “trị” là hành động phát xuất từ suy nghĩ đúng, chính xác nếu không sẽ là tà trị. Muốn biết “chính” như thế nào thì phải hiểu nghĩa của nó. Chính nghĩa phải dựa trên căn bản Nghĩa mà mọi người đều hiểu như nhau (không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc. Phải chăng đó là quan hệ: Nhiên-Nhân-Dân?
Thiên Nhiên có quy luật của riêng nó (sinh, thành, hoại, diệt) tạo nên vũ trụ, vạn vật (trong đó có trái đất, loài người). Loài người (Nhân) sống có quy luật riêng của loài người (văn hóa). Mỗi cá nhân là một thế giới riêng biệt nhưng có nhu cầu kết hợp với nhau để tồn tại nên xã hội (Dân) xuất hiện và tạo nên quy luật riêng (bộ lạc, quốc gia, quân chủ, dân chủ). Cá nhân sống đơn độc thì mỗi người là một ông vua: tự trị. Nhưng khi sống tập thể thì họ giao một phần “quyền tự trị” cho một người “lãnh đạo” (tiên chỉ, tù trưởng).
Từ đó xung đột xảy ra giữa người “lãnh đạo” và kẻ bị lãnh đạo (dân). Giai cấp xuất hiện thời quân chủ khi quan niệm “quyền” do trời (hay thượng đế) ban; chuyển sang ý thức dân chủ: quyền do mỗi người góp lại trao cho đại diện dân. Nhưng vì tâm trí và kiến thức không đồng nhất nên bảo vệ và phát triển sinh hoạt dân chủ rất khó khăn. Vì con người có suy nghĩ, tiếng nói, ngôn ngữ, văn hóa… tạo nên các quy luật xã hội, kinh tế. Nhưng để sống chung với nhau thì phải dựa trên hiến pháp, luật pháp. Nếu các nhà làm luật quên đi căn bản Nhiên-Nhân-Dân thì công bằng xã hội (Dân) không được thực hiện khi công bằng nơi cá nhân đã mất.
Loài người tiến bộ nhờ quan sát (giáo dục) để tìm hiểu và cải tiến đời sống. Do đó hiến pháp, luật pháp phải có công bằng mới gọi là công lý. Nhưng mỗi người mỗi ý. Kết hợp ý kiến để thành hình một hiến pháp đã khó. Duy trì và thực hiện còn khó hơn vì xã hội thay đổi khi thiên nhiên và con người thay đổi (sống không quá 100 năm). Một khi cần thay đổi (sau 30, 50 năm) mà hoặc cấp trên (lãnh đạo) hay cấp dưới (dân đáy tầng) không ý thức để thực hiện thay đổi thì xã hội sẽ rối loạn.
Do đó nói đến chính trị thì không hẳn là hiến pháp, luật pháp, cơ cấu chính quyền hay con người, xã hội (cai trị, bị trị, kinh tế, văn hóa) mà còn ý thức (sáng kiến) nơi cá nhân. Khi cá nhân ý thức sinh hoạt xã hội (kinh tế, chính trị) ảnh hưởng mọi người thì cá nhân sẽ làm gì? Người thiếu ý thức thì xung quanh (xã hội) ra sao thì cứ trôi theo dòng đời.
Ý thức cá nhân đến từ quán sát, thu thập kiến thức và đó là giáo dục. Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị. Nhưng mỗi cá nhân vì là một đơn vị cá biệt với sinh mệnh tâm lý của riêng nó. Tuy rằng gia nhập xã hội và trao một phần quyền cá nhân (qua bầu cử) cho người đại diện để điều hành xã hội nhưng không vì thế người đại diện hiểu hết sinh mệnh tâm lý của người dân.
Sinh mệnh (cuộc sống) và tâm lý của mỗi cá nhân tùy thuộc gia đình, hoàn cảnh, trình độ suy nghĩ, lý luận của mỗi cá nhân. Trong đó mặt sinh lý có thể giống nhau (nam hoặc nữ) nhưng về tâm lý và mệnh lý thì hoàn toàn khác biệt. Khi mỗi cá nhân không làm chủ được sinh mệnh tâm lý của mình thì làm sao thực hiện công bằng nơi bản thân và xa hơn: xã hội. Cũng như vậy, những ai ở cấp lãnh đạo có tự hiểu mình chăng? Không hiểu mình thì làm sao hiểu người? Không thực hiện công bằng bản thân thì làm sao lãnh đạo để thực hiện công bằng xã hội? Phải chăng chỉ nói láo, hứa lèo vì tham vọng cá nhân?
Vậy thì hiến pháp, luật pháp của chế độ dân chủ không có lỗi cho dù thiếu sót hay sơ hở mà thủ phạm là do tâm lý con người: Tham-Sân-Si. Làm sao ngăn chận tam độc này nếu không có tu dưỡng. Nhưng tu dưỡng chỉ giúp phần nội tại (nội tâm) của kẻ tu hành xa lánh đời. Còn kẻ nhập thế giúp đời thì tu dưỡng vẫn chưa đủ để kiểm soát “lãnh đạo” chính trị. Do đó vấn đề quy trách nhiệm là cần thiết để duy trì cân bằng “quyền” giữa cấp trên (lãnh đạo) và dưới (dân). Nếu dân có quyền chọn đại diện thì dân phải có quyền bãi nhiệm đại diện chứ không phải đồng viện (hay đồng đảng) quyết định.
Chính Trị và Trách Nhiệm (P2)
Trần Công Lân
Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)