Não Luận 5 (P1)

Chuyển biến não bộ, chuyển hóa não trạng

Tạo não bộ chủ tri, xóa não trạng bị trị

TƯƠNG LAI LUẬN VỊ VIỆT TỘC

LÊ HỮU KHÓA

SÁNG

Sáng kiến thường nhật * Sáng tác thường xuyên * Sáng tạo thường trực

***

Sáng kiến thường nhật

Trong thế kỷ có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền, thì một chính quyền khi thực hiện được cơm no áo mặc cho dân, chỉ là bước đầu trên con đường đi tìm nhân phẩm. Và con đường này sẽ dài và nếu có các lãnh đạo tinh anh, thì nhân lộ này sẽ vô cùng sáng lạn khi chính quyền thực sự thông minh đi vào hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo). Tại đây mỗi công dân được giáo dục và giáo dưỡng như một chủ thể sáng tạo không những có bổn phận với dân tộc, có trách nhiệm với đất nước, và luôn vận dụng hệ sáng để phục vụ đồng bào và đồng loại.

Ngay trong khẩu hiệu hiện nay của bạo quyền độc đảng toàn trị, trên đầu giòng trên mỗi văn bản, mỗi tờ giấy hành chính đều có một câu mơ tưởng trong mơ ảo với ba mệnh đề: độc lập – tự do – hạnh phúc. Cả ba khẩu hiệu này đều không có thật trong một chế độ ngày ngày tạo ra bất công, cho sản sinh ra hai quái thai thất nhân bất đức: tà quyền tham nhũng trịma quyền tham tiền trị. Hai quái thai này vừa tham tài nguyên, vừa tham đất đai, ăn chia cùng bạo quyền độc đảng toàn trị để một sớm một chiều biến dân lành thành dân đendân oan.

Trước Tàu tặc thì cúi đầu để mất đất, khom lưng để mất đảo, quỳ gối để mất biển, nắm quyền mà bị chính dân dán cho khẩu hiệu: “hèn với giặc, ác với dân”,hèn với giặc thì làm sao có độc lập, mà ác với dân thì làm sao dân có hạnh phúc. Còn tự do thì hoàn toàn là mơ mộng dẫn tới mơ hảo trong một chế độ quỷ quyền công an trị, đã đày ải những đứa con tin yêu của Việt tộc đấu tranh chống bất công vì dân chủ, tự do và nhân quyền. Những đứa con tin yêu đều bị biến thành các tù nhân lương tâm trong vòng lao lý của một nền tư pháp bị âm binh hóa bởi tà pháp của ĐCSVN, sau khi ngồi xổm lên hiến pháp, giờ thì ngồi-đè-cho-ngộp luôn cả tư pháp.

Khi một chính thể ra đời từ đa nguyên, có nền là dân chủ, có gốc là nhân quyền, thì chính thể này sẽ dựa trên hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo) từ giáo dục tới văn hóa, từ kinh tế tới thương mại, từ chính trị tới ngoại giao… Từ đây đưa dân tộc và đất nước nhập nội một cách sớm nhất, nhanh nhất vào nhân lộ văn minh vì nhân phẩm. Nhưng hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo) không khơi khơi trên trời rơi xuống, không tự nhiên dưới đất trồi lên, mà nó là con tính của não bộ, có sáng suốt “nhìn xa trông rộng”, có tỉnh táo “biết người biết ta”. Đó là một chính quyền sáng tạo biết hành động hợp lý trong bối cảnh văn minh khoa học kỹ thuật nhanh, biết hành tác toàn lý trong hiện cảnh văn minh kỹ năng tin tức và truyền thông rộng, biết hành giả chỉnh lý trong không gian hợp tác quốc tế sâu. Hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo) xuất hiện trong đa nguyên của dân chủ, có hiền tài là nguyên khí của quốc gia lãnh đạo một chính quyền liêm chính và thông minh, vì một dân tộc biết sáng tạo để thay đời đổi kiếp cho chính mình:

– Sáng kiến thường nhật, ngược lại với phản xạ làm công như phản xạ cúi đầu chờ lương tháng, hoặc loại công chức sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về, mà với những chủ thể đến với công việc bằng những sáng kiến thường nhật. Hàng ngày, có tự chủ để tạo hiệu năng, có tự tin để tạo hiệu suất, có tự trọng để tạo hiệu quả tăng trưởng ngay trong công việc của mình, mà không cúi đầu chịu đựng công việc, không khom lưng lãnh nhận công tác, không khoanh tay thụ động trong công vụ.

– Sáng tác thường xuyên, không phải là biến nhân kiếp thành bộ máy, biến nhân sinh thành công cụ, biến nhân gian thành vật liệu trong sản xuất, mà chủ động như những chủ thể, có chủ đoán trong chương trình, có chủ quyết trong phương án. Sáng tác trong văn hóa tới nghệ thuật; sáng lập các năng suất, hiệu suất, hiệu quả mới từ giáo dục tới đào tạo, sáng chế những đồ án, dự án, phương án mới để tập thể, cộng đồng, dân tộc được thăng hoa càng sớm càng hay trên nhân lộ văn minh.

– Sáng tạo thường trực, không những trong khoa học kỹ thuật mà cả trong văn hóa và giáo dục, không những trong văn học và nghệ thuật mà cả trong kinh tế và thương mại… Sáng tạo chính là sự chuyển đời đổi kiếp của quá trình chuyển hóa tích cực não bộ, chuyển biến hiệu quả não trạng; đó là sự vận não rồi động não, vắt não để thoát khổ, mở não để thoát nghèo. Không chấp nhận số kiếp xuất khẩu lao động, không chấp nhận nhân kiếp trai làm lao nô, gái làm nô tỳ cho các quốc gia láng giềng, vì Việt tộc không hề thua kém về thông minh và sáng tạo trước bất cứ một sắc tộc, chủng tộc, dân tộc nào trên hành tinh này.

Chỉ cần một chính quyền có hệ sáng (sáng kiến, sáng tác, sáng chế, sáng lập, sáng tạo), một chính phủ có quyết sách đường dài với quyết đoán của phương trình sáng kiến thường nhật-sáng tác thường xuyên-sáng tạo thường trực là có thể đưa đồng bào và đất nước từ âm đạo của âm binh tà quyền độc đảng toàn trị vào nhân lộ của văn minh vì nhân phẩm của Việt tộc. Đây không hề câu chuyện lý thuyết viễn vông mà là kinh nghiệm đã có và đã thành công của các quốc gia láng giềng cùng nôi tam giáo đồng nguyên với Việt Nam, đó là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Mà ta không quên Trung Quốc, chỉ nhờ một minh chủ loại Đặng Tiểu Bình, chỉ trong hơn 20 năm là thoát được nghèo nàn lạc hậu, giờ lại thành một loại cường quốc, chỉ sau Hoa Kỳ.

Bi kịch của ĐCSVN là không có bản lĩnh của minh chủ kiểu Gobazchep của Liên Sô cuối thế kỷ XX để từ bỏ ý thức hệ cộng sản và xã hội chủ nghĩa. Lại không có nội công của minh chúa loại Đặng Tiểu Bình để thăng hoa dân tộc qua con đường thương mại đẩy kinh tế, kinh tế đẩy phát triển, phát triển đẩy tiến bộ. Bi kịch của ĐCSVN chính là thảm kịch của Việt tộc hiện nay, một ĐCSVN không có tâm với dân tộc nên không có tầm với giống nòi, không có tài lãnh đạo đất nước, nên gây bao hiểm nạn qua nhiều thế hệ.

Khi các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây, từ Âu Châu tới Bắc Mỹ, được-hoặc-bị tiếp xúc với các lãnh đạo của ĐCSVN, thì tất cả họ đều nhận ra rằng: các lãnh đạo của ĐCSVN dù có trọn chính quyền trong tay, họ độc tài nhưng họ lại bất tài, họ độc trị nhưng họ không biết quản trị. Khi các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây tiếp cận để tìm hiểu về nội công chính quyền, bản lĩnh chính phủ, tầm vóc lãnh đạo của ĐCSVN, thì họ nhận ra rằng các lãnh đạo của ĐCSVN thiếu, vắng, trống, rỗng ba loại kiến thức căn bản sau đây để lèo lái một dân tộc về hướng văn minh vì nhân phẩm:

– Kiến thức tổng quát, từ nhân sinh tới nhân loại, từ nhân tri tới nhân trí có rễ của lịch sử, có gốc của văn hóa, có cội của giáo dục, có nguồn của đạo lý… các lãnh đạo của ĐCSVN không có kỹ năng lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận. Họ không có những tri thức cần thiết trong lãnh đạo trước hiện tình của thế giới và họ có kiến thức mờ nhạt về văn hóa Việt, họ có ý thức lỏng lẻo về văn minh Việt, họ có nhận thức lèo bèo về văn hiến Việt…

– Kiến thức chuyên môn, nơi mà một lãnh tụ hay một lãnh đạo phải là chuyên giachuyên môn, được giáo dục qua một chuyên khoa, được đào tạo bằng một chuyên ngành. Lại phải liên tục được huấn nghiệp để có chuyên nghiệp sắc nhọn trước tình hình tiến hóa của nhân loại. Ngược lại các lãnh đạo của ĐCSVN cạn cợt với sách lược đoản kỳ, họ lạng quạng với chính sách trung kỳ, họ hời hợt với quyết sách trường kỳ.

– Kiến thức hợp tác, nơi mà các lãnh đạo của ĐCSVN tự đóng khung vào ý thức hệ xã hội chủ nghĩa viễn vông, mà không có đồ án về liên minh ngoại giao quốc tế, không có dự án về liên hiệp chính trị quốc ngoại, không có phương án về liên kết kinh tế liên châu lục, với tầm nhìn của một toàn cầu hóa mở, rộng, nhanh…

Đây là câu chuyện hoàn toàn kiểm chứng được, khi ra khỏi Việt Nam, các lãnh đạo của ĐCSVN không dám tới các hội nghị có tầm vóc vĩ mô để đối thoại với các lãnh đạo của các quốc gia tiên tiến có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền. Các lãnh đạo của ĐCSVN không dám tới các hội thảo có vai vóc chuyên môn để đối luận với các chuyên gia quốc tế về các hệ vấn đề tự do là tiến bộ, công bằng là nhân quyền và bác ái là dân chủ. Thậm chí, các lãnh đạo của ĐCSVN không có nội lực tự tin để tới các đại học mà đối thoại để đối lý với các sinh viên trong các hội luận như các lãnh đạo của nhiều quốc gia châu Á, châu Phi… Đây là câu chuyện hoàn toàn thể nghiệm được, khi ta vận dụng ba chuyên ngành sắc nhọn của khoa học xã hội và nhân văn hiện nay:

Chính trị học tri thức, tức là chỉ có tri thức luận của chính khách mới làm nên tri thức học của chính sách. Còn chính khách mà vô minh và vô tri thì chính sách sẽ vô giác và vô cảm.

– Tâm lý học truyền thông, nơi mà nội dung truyền thông của một lãnh đạo có trong ý nghĩa ngôn ngữ mà lãnh đạo đó muốn truyền đạt đã chuyển tải các giá trị nhân bản và nhân văn nào? Từ đây, nội dung truyền thông, ý nghĩa ngôn ngữ, giá trị nhân bản chỉ là một trong tuyên bố, trong lời ăn tiếng nói của lãnh đạo đó.

– Xã hội học ngôn ngữ, tại đây ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp của một lãnh đạo làm nên thuật ngữ ngay trong chính ngữ của chính khách. Qua ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp, người nghe khi tiếp nhận tin tức, dữ kiện, chứng từ của lãnh đạo này thấy và thấu được nhân tính, nhân lý, nhân cách của lãnh đạo đó.

nhân tính, nhân lý, nhân cách của lãnh đạo này tới từ nhân tri, nhân trí, nhân văn của hắn, biểu hiện nhân đạo, nhân tâm, nhân nghĩa của hắn trước hằng số của nhân quyềnnhân phẩm của nhân loại. Nên khi ứng dụng ba phương pháp này để xem, xét, tra, kiểm nhân cách, phong cách, tư cách của các lãnh đạo của ĐCSVN, thì ta có các kết quả rất cụ thể, mà đây là một thảm kịch cho Việt tộc là từ ông Tổng Bí Thư của ĐCSVN kiêm chủ tịch nước CHXHCNVN, tới thủ tướng đại diện cho hành pháp, qua tới bà chủ tịch Quốc Hội thì các chuyên gia quốc tế phải kết luận là trình độ học vấnhọc lực của họ không hơn một sinh viên cấp cử nhân của các quốc gia phương Tây có văn minh dân chủ, có văn hiến nhân quyền.

Các học hàm lẫn học vị của các lãnh tụ hoặc lãnh đạo của ĐCSVN là cao học hay tiến sĩ, vì các bằng cấp mà họ trưng ra trong lý lịch và hồ sơ cá nhân của họ không hề là kết quả của học thật. Nên các học hàm lẫn học vị của các lãnh đạo của ĐCSVN đến từ một hệ thống giáo dục học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả. Và chỉ có (sự) thực mới vực được đạo, chỉ có học thật-thi thật-điểm thật-bằng thật tới từ học thật bằng học lực mới làm nên học vấn của lãnh đạo. Đối với các lãnh đạo cùng các chuyên gia quốc tế của phương Tây thì chuyện đánh lận con đen trong mua bằng bán cấp để mua chức bán quyền chỉ làm trò hề, trò cười, trò bịp trong hợp tác quốc tế mà thôi!

Não Luận 5 (P2)

Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học * Tiến sĩ quốc gia trường gia Cao học khoa học xã hội Paris * Tiến sĩ xã hội học Đại học Nice-Sophia Antipolis * Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa. Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s