Phê Bình Cơ Năng Hiến Pháp (P1)

Phê Bình Cơ Năng Hiến Pháp (P1)

Lời người viết: Câu hỏi luôn được nêu ra -trong mọi tài liệu kết thúc: “XY Thái Dịch Lý Đông A” – là phần nào thực sự do Lý Đông A (LĐA) viết và chỗ nào là do người sau thêm vào? Kế đó là điều nào khả thi và những gì không còn thích hợp phải được xét trong mọi khía cạnh và sẽ được quyết định như thế nào? Phải chăng tất cả những tài liệu gọi là của LĐA cần phải xét lại và điều chỉnh cho ăn khớp với nhau theo đúng nội dung bởi vì người ghi lại đã dùng từ ngữ sai cho dù đang nói về một nội dung? Và khi làm điều này, người xét lại và điều chỉnh phải chịu trách nhiệm chứ không thể nào tiếp tục đề tên LĐA dưới bài như trong quá khứ những người đã ghi lại những tài liệu này.

Cơ Năng Hiến Pháp được nhắc đến trong hai tài liệu Duy Dân Cương Thường và Duy Dân Cơ Năng. Vậy mục đích của LĐA là gì? Cơ Năng Hiến Pháp giữ vai trò gì trong sự liên quan của hai tài liệu trên? Nếu có khác biệt trong chi tiết thì đó là lỗi của người ghi lại hay có giá trị gì khác? Mong đợi sự đóng góp ý kiến của mọi người để làm sáng tỏ tinh thần LĐA.

Hiến Pháp là văn bản về luật tối cao của một quốc gia. Hiến Pháp quy định sinh hoạt của quốc gia về mặt xã hội, chính trị, kinh tế…. Cơ Năng Hiến Pháp là nét độc đáo của Duy Dân chủ nghĩa. Có thực hiện Cơ Năng Hiến Pháp thì mới thấy và thực hiện Bình Sản kinh tế để xây dựng và duy trì xã hội Nhân Chủ Dân Chủ trên căn bản Trinh-Bình-Hòa.

Nếu Cơ Năng Hiến Pháp là đỉnh cao của Duy Dân thì Duy Nhân Cương Thường (kỷ luật và nguyên tắc) và Duy Dân Cơ Năng (bộ máy hoạt động) là trung tầng. Đáy tầng là Sinh Mệnh Tâm Lý và Thiết Giáo (tu dưỡng thắng nhân). Không vượt qua được Sinh Mệnh Tâm Lý & Tu Dưỡng Thắng Nhân thì cho dù có hiểu và sử dụng Duy Nhân Cương Thường và Duy Dân Cơ Năng cũng đi đến chỗ lầm lạc.

Nhận Diện Cơ Năng Hiến Pháp  (trong Duy Nhân Cương Thường)

I. Tổng Cương

Khi viết “Hiến pháp của Đại Việt gồm 3 phần: (a) Toàn pho Đại Việt Mô làm nguyên tắc…trừ phần quy định về lý luận kiến thiết và biện chứng” thì phải chăng LĐA muốn toàn pho Đại Việt Mô sẽ là “Hiến Pháp” của một nước Việt? Mà Đại Việt Mô gần như tất cả những gì LĐA đã đưa ra để dựng thuyết Duy Dân. Vậy Hiến Pháp của nước Việt nói khác đi là Hiến Pháp nước Việt “Duy Dân”. Nếu có đảng Duy Dân thì họ sẽ nhận họ là Hiến Pháp, là quốc thể, là trường tồn, là độc tôn…thì khác gì cộng sản? Rồi nếu có các đảng chính trị với chủ trương khác có chấp nhận Hiến Pháp này không? Hay lại nội chiến? Và nếu không có đảng Duy Dân thì liệu thuyết Duy Dân có thể áp dụng? Nếu có một đảng Duy Dân mà không có đáy tầng Duy Dân, không có xã hội Duy Dân thì Hiến Pháp Duy Dân chỉ là một cơ chế chính quyền được đổi tên cho đẹp chứ chẳng có gì khác biệt so với cơ chế chính quyền khác trên thế giới.

Còn phần…”trừ phần quy định về lý luận kiến thiết và biện chứng” thì có thể thấy là hợp lý. Vì kiến thiết sẽ thay đổi theo điều kiện xã hội, tài chính quốc gia, xu hướng quốc dân và phần biện chứng có thể thay đổi tùy theo khả năng biện chứng của con người thời bấy giờ. Câu hỏi là có thực sự LĐA muốn toàn pho Đại Việt Mô nằm trong Hiến Pháp hay không?

Rồi đến “(b) Phần quy định thực tiễn của chế độ Duy Dân Cơ Năng”. Đoạn này cho thấy tác giả (LĐA) xác định Hiến Pháp Việt là phần cuối của Duy Dân Cơ Năng. Vậy ai hiểu Duy Dân Cơ Năng? Cái nào thực tiễn? Cái nào không thực tiễn? Thực tiễn thì gọi là cơ năng (là bộ máy). Nếu là máy thì phải chạy, thì mới hữu dụng, đó là thực tiễn. Còn nếu không chạy thì máy làm ra để sét rỉ ư?  Vậy tất cả hoạt động (cơ năng) của Duy Dân phải dẫn đến Cơ Năng Hiến Pháp. Sự tìm hiểu cơ cấu của Cơ Năng Hiến Pháp sẽ giúp chúng ta hiểu những gì cần thực hiện để có Cơ Năng Hiến Pháp.

Đến phần “(c) Phần quy định thực tiễn của chế độ Duy Dân Cao Công”. Trong khắp các tài liệu của LĐA không có phần nào nói đến “cao công” (có phân công mà thôi). Vậy thì chẳng lẽ LĐA mất trí nhớ để viết bậy? Ai là người sau, thêm thắt chỗ này? Mà Duy Dân Cao Công là cái gì?

II. Điển Cương

  1. “Quốc thể:
    a. Đại Việt thành lập Đại Nam Hải Liên Bang Thống Nhất.
    b. Đại Việt kiến thiết và hành dụng Duy Dân chủ nghĩa tối cao”

Vậy thì nước Việt tương lai sẽ phải là Liên Bang Đại Nam Hải cho dù các nước Miên, Lào, Thái, Miến, Phi, Mã Lai …có tham dự hay không? Nếu chỉ là Việt không (cho dù chia 3 nước hay 3 miền) thì có gọi là Liên Bang hay không? Nếu là Liên Bang thì Hiến Pháp phải quy định nhiệm vụ của Liên Bang và Tiểu Bang (theo kiểu Mỹ). Cuối cùng vẫn là câu hỏi có phải từ LĐA viết ra hay do ai đó thêm từ ngữ?

LĐA đề cập đến Liên Bang nhưng phải hiểu nguồn gốc Liên Bang của LĐA phát xuất từ chủ nghĩa Duy Dân với nền tảng Tu Dưỡng Thắng Nhân và Sinh Mệnh Tâm Lý với khuôn khổ của Duy Dân Cương Thường (các tiểu bang cùng thực hiện  Duy Dân chủ nghĩa). Do đó Liên Bang “Duy Dân” khác với tất cả các thể chế Liên Bang của thế giới hiện giờ. Hình thức Liên bang hiện giờ là chú trọng quyền Ngoại Giao và Quốc Phòng. Liên Bang theo Duy Dân dựa trên Sinh Mệnh Tâm Lý và Tu Dưỡng Thắng Nhân. Đó là yếu tố tự giác cá nhân chứ không dựa trên số dân đông hay tài nguyên thiên nhiên v..v..

Trong phần (b) sử dụng “Duy Dân chủ nghĩa tối cao” có nghĩa các tiểu bang trong liên bang đều theo đuổi Duy Dân. Vậy thì Duy Dân có trước khi thành lập liên bang (từ dưới lên) hay có liên bang rồi mới thực hiện Duy Dân (từ trên xuống)?  Nếu có người hay Đảng, tổ chức địa phương không chấp nhận Duy Dân chủ nghĩa thì sao?

2. “Chính thể” chia ra bốn phần gồm “Giáp”, “Ất”, “Bính”, “Đinh”…là tại sao?

Khi chia theo Giáp, Ất, Bính, Đinh… thì LĐA có ngụ ý gì? Tại sao LĐA không dùng I,II.II… hay A,B,C… hoặc 1,2,3…? Phải chăng theo lý số (Dịch lý, Độn Giáp) thì Giáp có thể ẩn (độn giáp) giấu hay thay đổi theo thời thì đó là những ai theo đuổi CHÍNH trị phải ý thức (Giáp: Chính Trị tổng cơ, Chính Trị phù-bật) cầm quyền là nhất thời và có lúc cần phải ẩn mặt, rút lui. Còn Ất (Hành Chính tổng cơ) là những cơ quan thường hằng, những công chức, người không chạy theo đảng, khuynh hướng chính trị mà chỉ lo duy trì guồng máy quốc gia chạy đều cho dù đảng hay khuynh hướng chính trị nào cầm quyền. Và Bính (Hành Chính phụ cơ) tuy là “phụ” nhưng lại là “chính”: nền tảng của Công Dân Đoàn, Trung Tâm Hội Nghị các cấp Tỉnh, Huyện, Hạt, Xã. Nếu kẻ thù âm mưu tiêu diệt cơ cấu “chính” thì chế độ sẽ sụp đổ nhưng đối với Duy Dân thì chỉ cần cái “phụ” cơ tồn tại thì Duy Dân vẫn tồn tại. Và Đinh (chính trị nguyên cơ) tuy đứng sau cùng nhưng lại là then chốt nhắc nhở “nguyên cơ”: Căn nguyên của Duy Dân: DÂN.

Trong phần “Giáp” (Chính Trị Nguyên Cơ) có (A) Tối Cao Quốc Thể, (B) Tối Cao Lập Pháp, (C) Phê Phán Công Đường (chính trị giám sát), (D) Chính Trị Phù Bật. Vậy có thể hiểu là ba (A,B,C) bộ phận này ngang hàng nhau giống như: Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp (Tối Cao Pháp Viện) của Mỹ, tuy là chi tiết khác  nhiều so với cơ chế của Mỹ. Còn Chính Trị Phù Bật là để phục vụ Quốc Trưởng giống như các cơ quan dưới quyền của tổng thống Mỹ.

Trong phần “Ất” (Hành chính tổng cơ) có (A) Nghiên Cứu, (B) Chấp Hành, (C ) Khảo Hạch gồm Tư Pháp Viện (thừa hành, giải thích dẫn dụng pháp luật, dân luật, hình luật, Quân luật) và Kê Sát Viện (Giám sát cơ cấu chính quyền). Vậy các cơ quan thuộc hàng “Ất” phải dưới hàng “Giáp”(hàng dọc) vì chính trị chi phối hành chính. Hay “Ất” tuy nằm dưới nhưng lại cũng có vị thế nằm ngang hàng với “Giáp” vì có một số quyền mà các cơ quan bên “Giáp” không có – trái lại phải lệ thuộc vào các cơ quan bên “Ất” để thể hiện tính Đan Quyền mà LĐA muốn nhắm đến? Chưa kể sự lộn xộn giữa Chính và Trị mà tài liệu Cơ Năng Duy Dân cho rằng Hành Chính Tổng Cơ là Trị trong chính Chính Trị Tổng Cơ là Chính. Hay từ ngữ Chính và Trị ở trong Cơ Năng Duy Dân mang ý nghĩa hoàn toàn khác?

Những chi tiết ở đây trong Cơ Năng Hiến Pháp sẽ cho chúng ta cái nhìn về cấu trúc chính quyền của LĐA khác với những cấu trúc của Tây Phương và quan niệm “phân quyền” cũng như “cân bằng và kiểm soát” (check & balance) của Tây Phương đã được LĐA thay bằng “đan quyền” (sự đóng góp của Trung Tâm Hội Nghị và Công Dân Đoàn cùng các cơ quan bên Chính Trị lẫn Hành Chánh tạo thế đan quyền mà nếu không đan với nhau thì hệ thống sẽ trì trệ hoặc đổ vỡ) là yếu tố quyết định của chính thể “Duy Dân” và sự thực hiện “Bình Sản Kinh Tế”.

Nếu không thực hiện được Thiết Giáo (tu dưỡng thắng nhân) và Sinh Mệnh Tâm Lý thì sẽ không có Công Dân Đoàn, Trung Tâm Hội Nghị, Cơ Năng Hiến Pháp và Bình Sản Kinh Tế sẽ không thể thực hiện. Bất cứ tổ chức, đảng, xu thế chính trị nào cũng có thể vay mượn “ngôn ngữ” của LĐA để mạo danh Duy Dân nhưng nếu gốc đã giả thì ngọn, hoa, trái… đều giả.

Giáp: Chính Trị Tổng Cơ

A. Tối Cao Quốc Thể

Điều 5: “Đại Việt Quốc Trưởng do Trung Tâm Hội Nghị công cử”. Vậy Trung Tâm Hội Nghị phải có trước? (vậy là khi nào?)

Điều 7: “Quốc Trưởng chịu trách nhiệm trước Trung Tâm Hội Nghị” (quốc hội hay toàn quốc có khác gì nhau?)

Vậy Trung Tâm Hội Nghị có thể truất phế Quốc Trưởng nếu không làm tròn nhiệm vụ hay vi phạm luật? Hay Phê Phán Công Đường và Kê Sát Viện có quyền lên tiếng để tạo áp lực nhằm thay thế vị Quốc Trưởng nếu vị Quốc Trưởng đã không làm tròn nhiệm vụ? Ai là người có quyền truất phế Quốc Trưởng mà trong Cơ Năng Hiến Pháp không ghi rõ? Và khi nào Quốc Trưởng có thể bị truất phế ngoài tội phản quốc?

Điều 9: “được phản bác quyết án của Trung Tâm Hội Nghị 3 lần”. Vậy sau 3 lần thì ai đúng, ai sai? Ba lần phản bác cho một năm hay cho một nhiệm kỳ 9 năm? Và sau khi 3 lần phản bác thì những lần sau đó, phải chăng Phê Phán Công Đường sẽ đứng ra giải quyết xung đột giữa Quốc Trưởng và Trung Tâm Hội Nghị?

Điều 10: “Được miễn truy tố trong nhiệm kỳ, trừ phạm phản quốc”. Vậy nếu vị Quốc Trưởng giết người thì không bị truy tố (tội phạm chính trị hay dân sự)? Phải chăng đây là điều cần phải loại bỏ hoặc phải ghi rõ hơn là miễn truy tố ngoại trừ làm ảnh hưởng đến sinh mạng, tài sản những người khác hoặc vi phạm nhân cách đạo đức dành cho một vị Quốc Trưởng hoặc lạm dụng chức quyền?

Điều 11: “Được đàn hạch (question) bởi Phê Phán Công Đường trước Trung Tâm Hội Nghị”. Như vậy nếu có xung đột (bất đồng ý kiến giữa Quốc Trưởng và Trung Tâm Hội Nghị) thì Phê Phán Công Đường sẽ thụ lý. Phải chăng phán quyết của Phê Phán Công Đường sau khi đàn hạch Quốc Trưởng trước sự quan sát của Trung Tâm Hội Nghị sẽ là quyết định sau cùng?

Điều 12: “Được đàn hạch bởi Kê Sát Viện trước tự mình (bản thân)” về pháp luật, tài chính và quan lại. Kê Sát Viện phụ trách với Trung Tâm Hội Nghị, không do Quốc Trưởng tuyển miễn. Như vậy Trung Tâm Hội Nghị có 2 cách đối phó với Quốc Trưởng qua điều 11 và 12.

Điều 17: “Được ân xá, đặc xá, hay chung quyết các án Tư Pháp, Kê Sát”. Phải chăng quyền này cần phải định nghĩa cho rõ ràng hơn để tránh tình trạng đặc xá hay ân xá người thân, người ủng hộ mình hoặc người hy sinh vi phạm luật pháp để làm lợi cho vị thế cầm quyền của Quốc Trưởng? Bất cứ quyền nào của vị Quốc Trưởng cần phải tránh xung đột quyền lợi (conflict of interest) cá nhân với vị thế cầm quyền. Khi nào quyền ân xá bị lạm dụng và phải xử lý ra sao nếu có sự lạm dụng đó từ vị Quốc Trưởng? Nếu vị Quốc Trưởng ân xá người mang tội diệt chủng hoặc người trong gia đình thì sao?

Điều 18: “Tuyển bổ các viện trưởng các viện, các bộ của tối cao quốc quyền trừ Lập Pháp, Nghiên Cứu, Kê Sát, và Tư Pháp được đề nghị tuyển bổ”

Quốc Trưởng đề nghị người cho bốn viện này để chọn người viện trưởng. Tuy nhiên, quốc trưởng có quyền lựa chọn nhân viên của Lập Pháp Viện. Đây là trở ngại mà sẽ bàn thảo ở phần Lập Pháp Viện.

Phê Bình Cơ Năng Hiến Pháp (P2)

Trần Công Lân

Tháng 11 năm 2019 (Việt lịch 4898)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s