Não Luận 3 (P2)

Tự chủ vì nhân trí

Tự chủ xác nhận tự do là tôn vinh cái đúng, mong cầu cái đẹp, là trân quý cái cao, trong đó ham muốn cũng như đam mê không còn lẫn trốn trong ích kỷ, mà là động lực của đạo lý có nhân lý, động cơ của đạo đức có nhân phẩm. Một tự chủ muốn xác nhận tự do trong xã hội Việt Nam hiện nay là phải xác minh nguồn gốc của bất bình đẳng mang nội chất của bất công, tới từ một bạo quyền đang cai trị đồng bào, đất nước, xã hội, bằng độc trị qua độc đảng, mà không hề biết quản trị đất nước.

Tự chủ vì nhân trí là khả năng biến nổi giận thành nổi dậy nhưng nổi giận mà đưa đến nổi loạn thì có thể giết chính nghĩa của tự do. Biết bảo vệ chính nghĩa của tự do là biết đấu tranh bền vững vì tự do, đây là sự trưởng thành sáng suốt và tỉnh táo của các phong trào dân chủ và nhân quyền của Việt Nam trong những năm qua. Chọn bất bạo động song hành cùng đấu tranh ôn hòa, chọn đối thoại để tranh luận, chọn đàm thoại để đàm phán, chính là nội chất thông minh của hành động tự do, vừa có chính nghĩa, vừa có lý trí, vừa có trí tuệ trao luận, vừa có tuệ giác truyền luận. Sự thông minh của nhân loại tới từ sức mạnh của lý trí tự chủ, được chế tác ra từ các kinh nghiệm, các thử thách, các thăng trầm mà lý trí đã tiếp thu được qua sự thực để nắm chân lý mà biết lẽ phải. Chính lý trí đã dắt tư duy, đã đưa suy quyết vào sung lực của tự chủ; vì lý trí của tự chủ luôn biết đi tìm sự thật.

Tương lai luận vị Việt tộc phải mang sự sáng suốt của tự chủ muốn thay đời đổi kiếp dân tộc, biết chuyển biến não bộ tích cực trong giáo dục, chuyển hóa não trạng từ văn hóa tới xã hội, từ luật pháp tới định chế… Biết rời bỏ ích kỷ để tiếp nhận nhân trí, rời bỏ cái tôi tự cung tự cấp để đón nhận cái chung trong công ích trong tổ chức xã hội, biết chia sẻ công bằng để sống chung trong công lý. Tự chủ vì nhân trí là tiền đề sáng tạo ra phạm trù tự do từ đó đề nghị các sinh hoạt chính trị phải được đúng hơn, tức là phải được đạo đức hóa hơn, để các lãnh đạo chính trị phải làm việc trong luân lý của trách nhiệm và bổn phận, và sống trong đạo lý hay, đẹp, tốt, lành cùng với đồng bào mình.

Tại đây, quyền lực chính trị phải nhận trọng trách là phát huy tự chủ cho mọi công dân, nếu quyền lực không làm được chuyện này thì nó chỉ là tà quyền. Tự chủ vì nhân trí thấy để thấu trong sinh hoạt chính trị với chuyện lạ là tự do trở nên sắc nhọn ngay trong các thể chế độc tài, ngay trong các chế độ độc đảng toàn trị, nơi mà không một ý đồ chính trị nào có thể giới hạn tự do của cá nhân, của tập thể, của cộng đồng, của dân tộc trên con đường đi tìm nhân phẩm. Chuyển biến não bộ để chuyển biến hóa não trạng là tiếp nhận quá trình tương lai luận vị nhân phẩm để cởi bỏ nhục thế của nhân dân bị trị, mà đón nhận nhân vị của công dân chủ trị.

Bi hài kịch hiện nay của ĐCSVN với Ban Tuyên Giáo của nó chính là thảm kịch cho học thuật và trí thức hiện nay phải sống trong cơ chế của bạo quyền độc đảng toàn trị. Tháng chín, năm 2020, trưởng Ban Tuyên Giáo trung ương cho ra đời viện Triết học, với nhiệm vụ ý thức hệ là bảo vệ triết học Marx-Lenin, cùng với lời ăn tiếng nói của vô tri trong vô minh đã vô tình vạch trần cái vô học trị của ĐCSVN. Ông trưởng ban Tuyên Giáo loạn-ngôn-trong-đần-ngữ để đưa vào bài tham luận của ông là «phải bảo vệ triết học Marx-Lenin vô địch… để chống lại các triết học thù địch». Cái vô học trị trong điên-ngôn-trong-lận-ngữ đã hiện hình ngay trong cái vô hậu trị từ chính sách tới hành động; vì một lý luận bình thường sẽ nhận ra lối lập luận dị-ngữ-trong-man-ngôn của ông trưởng Ban Tuyên Giáo, vì nếu đã là «vô địch» rồi thì đâu còn «đối thủ» để sinh ra «thù địch».

Vẫn chưa xong, nếu phân tích nội dung bài tham luận của ông trưởng Ban Tuyên Giáo là một cuộc hoảng-ngữ-trong-tán-ngôn, tới từ vắng kiến thức, trống tri thức, rỗng trí thức, mà các chuyên gia ngôn ngữ học đã phân tích là trình độ của ông không vượt được mức độ tú tài của các học sinh trong các quốc gia có văn minh, có văn hiến nhân quyền. Vì trong bài tham luận của ông có những ngữ vựng, ngữ văn, ngữ pháp bị lắp ráp kiểu ung thư đại tràng về thuật ngữ, ông rỉ rả với thật ngữ: tư tưởng triết học. Trong học thuật, thì tư tưởng và triết học là hai phạm trù tri thức hoàn toàn khác nhau, được phân biệt rất rõ trong khoa học xã hội và nhân văn, nhất là trong triết học.

Sự khác biệt làm nên sự tách biệt giữa tư tưởng và triết học là dặm trường «thiên sơn vạn thủy» vì phải «lội suối trèo đèo» qua hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận). Sự khác biệt không sao khỏa lấp được giữa tư tưởng và triết học, nơi mà tư tưởng là một hệ thống phân tích các giá trị và được giải thích theo thứ tự ưu tiên của nó. Còn triết học thì cân, đo, đong, đếm để xem, xét, tra, nghiệm các giá trị, nơi mà các mâu thuẫn giữa các giá trị phải được gạn lọc qua đối thoại bằng đối luận, đối trọng trong đối kháng, nơi mà các mâu thuẫn giữa các giá trị vừa là nội lực lý luận, vừa là sung lực giải luận làm nên sự trưởng thành của triết học bằng hệ đối (đối thoại, đối luận, đối trọng, đối kháng).

Nếu viện Triết học của Ban Tuyên Giáo có ông trưởng ban tới từ học thật-thi thật-điểm thật-bằng thật, với học vị thật làm nên học hàm thật nhờ có học lực thật, chớ không phải như nhân dân Việt ngày ngày phải thấy nhan nhản các lãnh đạo ĐCSVN với học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả, cùng học vị thật giả, học hàm giả qua học lực giả, thì ông trưởng Ban Tuyên Giáo phải bắt đầu xây dựng viện Triết học bằng nhân lộ học thuật thật qua:

* Lý thuyết luận của hệ thức (kiến thức thật, tri thức thật, trí thức thật, ý thức thật, nhận thức thật).

* Phương pháp luận của hệ đối (đối thoại, đối luận, đối trọng, đối kháng).

* Khoa học luận của hệ nhân (nhân tính, nhân lý, nhân tri, nhân trí, nhân bản, nhân văn, nhân vị, nhân đạo, nhân tâm, nhân từ, nhân nghĩa, nhân quyền).

Vì không có học thuật thật để cõng nghiên cứu thật, để bồng khảo sát thật, để điều tra thật, cùng lúc song hành để so sánh cùng học triết học thế giới hiện nay, thì viện Triết học của ông trưởng ban Tuyên Giáo chỉ tái đào tạo loại bồi bút chuyên nghề «chém sau lưng», loại bồi chữ chuyên nghiệp «chó cắn trộm», nơi mà nhân dân đã mô thức hóa rất thật qua hình ảnh «mưu hèn kế bẩn». Để ông trưởng ban Tuyên Giáo cùng các cộng tác viên của viện Triết học này thấy-cho-thấu là chỉ trên mặt trận triết luận thì: triết học của Marx là loại triết học đã quá thô sơ so với các chuyên ngành triết hiện nay, còn Lenin thì không có một công trình triết nào của riêng ông.

Cho nên nếu ép-ngôn-trong-dồn-ngữ như ông trưởng ban Tuyên Giáo muốn: «triết học marx-lenin» thì thiên hạ, nhất là giới trí thức chuyên môn triết học quốc tế họ «cười cho mà chết». Chỉ cần ông trưởng ban Tuyên Giáo làm theo lời dạy của tổ tiên Việt là so ra mới biết ngắn dài, là khuyên ông chỉ cần tổ chức hàng loạt hội thảo, hội nghị, hội luận cấp quốc tế có đầy đủ các triết gia quốc tế gần xa với những công trình đồng ý với triết học Marx, mà đối diện là các công trình chống triết học Marx thì ông trưởng ban Tuyên Giáo sẽ khám phá ra bài học thứ hai của tổ tiên Việt là sự thật mất lòng, mà trong học thuật thì sợ nhất vẫn là mất lòng trong hỏa hoạn, như một lời dạy khác nữa của tổ tiên Việt là: cháy nhà ra mặt chuột!

Kết cuộc của bài tham luận của ông trưởng ban Tuyên Giáo là hậu nạn của quá trình tán loạn tâm tri, từ-điên-dại-tới-điên-rồ, nơi mà tẩu hỏa nhập ma cho tới chuột cũng không có đường chạy, khi ông mong muốn là Viện triết học mới ra đời của ĐCSVN sẽ có những công trình ngang tầm với học thuật của thế giới tiên tiến nhất. Não bộ hỏa hoạn của ông đã chớp nhoáng biến thành não trạng hỏa nạn cho thấy là ông không biết gì về triết học, và chắc chắn là ông không biết gì về tổ chức, sinh hoạt, ảnh hưởng, lịch sử của triết học.

Thật là thảm lòng để thông báo cho ông biết rằng, triết học đã sinh ra đời từ rất lâu trong nhân tri lẫn nhân trí của nhân loại, vì nó có trước cả công nguyên. Mà trong lịch sử của nó thì cổ triết của Hy Lạp là nền móng, gốc, rễ, cội, nguồn nhưng trong quá trình phát triển của triết học thì Âu Châu thì chỉ có ba đại diện: Anh, Đức, Pháp và thế kỷ XX có Hoa Kỳ trợ lực. Như vậy, nếu triết học là tinh hoa của nhân tri, là đứa con tin yêu của nhân trí, thì trên thế giới này chỉ có vài quốc gia là đất dụng võ của triết, có những quốc gia quý triết như Nhật Bản, có những quốc gia trọng triết như Hàn Quốc, kể cả Trung Quốc đang thèm triết nhưng vẫn không có triết. Sự thật mất lòng là vậy!

Xin được thông báo cho các lãnh đạo của ĐCSVN có não bộ vắng nhân tri, nhất là Ban Tuyên Giáo có não trạng trống nhân trí, về lịch sử của triết học có ngay trong trí lực của giáo dục, một quốc gia xuất sắc về triết học là Pháp quốc, luôn tìm mọi cách để bảo vệ môn triết ngay tại trung học. Khi tất cả các học sinh được chọn chuyên nhành theo ý muốn, nhưng tới năm thi tú tài thì tất cả các chuyên nhành đều phải thi môn triết, nơi mà giáo khoa cùng giáo trình mang nhân lý giáo án là đa dạng triết học song hành đa diện triết gia.

Xin được thông báo cho các lãnh đạo của ĐCSVN có não bộ vắng nhân bản, nhất là Ban Tuyên Giáo có não trạng trống nhân văn là quan hệ nhân vị bằng nhân phẩm của các quốc gia quý đa dạng triết học, trọng đa diện triết gia. Hãy lấy thì dụ qua luận thuyết triết của Rousseau khi triết gia này lý luận con người sinh ra với bản chất tốt nhưng khi sống trong quan hệ xã hội thì con người bị đời sống xã hội làm xấu đi, rồi ông lập luận luôn là con người muốn nhận lại nhân cách lành trong nhân vị tốt thì nên trở về với các đẹp của thiên nhiên. Ngoài kiệt tác Công Ước Xã Hội (Contrat social) cùng bao công trình triết học về giáo dục, đạo đức… thì cuối cuộc đời của Rousseau đã để lại hai kiệt tác: TựXxưng (Confessions) và Mộng Mỵ của kẻ dạo cô đơn (Rêverie du promeneur solitaire), đây là hai «minh tác» không những cho Triết học mà cho mọi nghành khoa học xã hội và nhân văn.

Hai tác phẩm này được sáng tác trên các nẻo đường đi dạo vào cuối cuộc đời của Rousseau, mà sau khi ông qua đời thì các địa phương từ lãnh đạo tới dân chúng đã cùng nhau biến các địa danh này thành đúng theo ý nguyện của luận thuyết triết là: con người phải nhận lại nhân cách lành trong nhân vị tốt để trở về càng sớm càng hay với các đẹp của thiên nhiên. Câu chuyện nhân sinh văn minh nhờ nhân triết thông minh này chắc chưa có trong não bộ loãng nhân lý các lãnh đạo của ĐCSVN có, chắc chắn là chưa có trong não trạng nhòa nhân tính của Ban Tuyên Giáo. Nếu đám người này có não bộ triết biết làm nên não trạng học thì họ hãy bắt ngừng ngay mọi nguồn ô nhiểm từ không khí tới nguồn nước, từ thôn quê tới thành thị, đang giết dần giết mòn Việt tộc, đang ngày ngày hủy diệt gióng nòi Việt.

Hài kịch của ĐCSVN chính là bi kịch của trí thức Việt hiện nay trong nước, như cá nằm trên thớt, ngày ngày bị điếm nhục hóa bởi những lãnh đạo của ĐCSVN, thấy lãnh đạo vô minh mà phải cúi đầu, thấy lãnh đạo vô tri mà phải khom lưng, thấy lãnh đạo vô trí mà phải khoanh tay, thấy lãnh đạo vô luân mà phải quỳ gối. Ngậm oan uất rồi nuốt nước mắt vào tim mà còn thấy tim đen bẩn bởi điếm ngôn xảo ngữ của lãnh đạo âm binh.

Tự chủ là câu chuyện cẩn trọng trước nhân phẩm của chính mình, để tự chủ được chấp đôi, chấp lứa với nhân trí, không những vì nhân lý và còn vì nhân tính nữa. Nếu độc đảng dùng độc quyền qua độc trị trong độc tài để đàn áp, để bắt bớ, để bỏ tù, để tuyên án, để tra tấn, để hủy diệt các nhà hoạt động vì dân chủ, vì nhân quyền, rồi tiêu diệt quyền sử dụng tự do của họ; nên tự chủ vì nhân phẩm khi muốn bảo vệ tự do thì phải đứng lên! Nổi dậy chống lại tham quyền trong lạm quyền, đang ung thư hóa xã hội, đang đưa vi trùng độc hại của độc đảng trong độc tôn để gây trọng bịnh ngay trong đạo đức của Việt tộc, ngày ngày tìm cách xiết cổ các hành vi chân chính, các hành động liêm chính của tự do tự chủ vì nhân phẩm. Nên tại sao ta phải cần chuyển hóa não bộ, chuyển biến não trạng càng sớm càng hay.

Bạo quyền độc đảng toàn trị hiểu tự chủ vì nhân phẩm một cách xấu và tục vì nó chỉ biết tham quyền để tham nhũng, đưa đẩy đất nước xuống vực, xô đẩy dân tộc vào cõi diệt vong. Ngược lại, khi hiểu tự chủ một cách cao và đẹp là sử dụng văn minh của nhân loại để củng cố quyền tự do giải phóng số kiếp của mình đang bị bạo quyền độc đảng toàn trị tồi tục hóa, thì câu chuyện tương lai luận dự phóng tỉnh táo vì Việt tộc trong luồng học thuật mới của tương lai học với các chính sách dự phòng sáng suốt là câu chuyện của não bộ linh hoạt luôn tìm cách thích ứng hóa với các tiến hóa của nhân loại để sở hữu hóa các tiến bộ từ khoa học tới kỹ thuật, tự dân chủ tới nhân quyền. Đây chính là một thông minh rất nhạy bén của tự chủ vì nhân trí biết học hỏi để có tự do hiểu biết, biết vận dụng kiến thức để dựng ý thức, để tận dụng tự do đầu tư, tự do sản xuất, tự do thương mại, tự do kinh doanh… Chuyển hóa não bộ, chuyển biến não trạng theo hướng tự chủ là để đổi đời, chọn tiến bộ để pháp triển, lấy văn minh để phục vụ nhân phẩm, lấy nhân trí để phụng sự cho nhân vị!

Tự chủ nhận kiến thức để gầy dựng tri thức, chế tác ý thức trong nhân tính vì nhân phẩm, đó là tự chủ của kiến thức liêm chính đi tìm nhận thức đúng về cuộc sống với chọn lựa trong sạch. Nhưng quá trình minh bạch này đang bị tha hóa nặng nề vì các lãnh đạo bất tài có quyền lực qua độc tài dựa trên độc đảng của ĐCSVN. Nếu họ sáng suốt thì họ sẽ phải hiểu: phản biện để chống lại ngu dân chính là sự tự chủ của tri thức. Tất cả chỉ vì dân tộc bị lãnh đạo bởi một ĐCSVN rất sợ, rất ngại loại não trạng tự chủ vì nhân trí, với tự do chân chính của nó dựa trên thế kiềng ba chân: sự thực của nhân tri, chân lý của nhân phẩm, lẽ phải của nhân đạo mà không sao ngu dân được qua tuyên truyền sống sượng. Tất cả cái giả tạo sẽ tạo ra một xã hội bị âm binh hóa, vừa tha hóa kiến thức, vừa đồi trụy hóa tri thức, mà lỗi lẫn tội tới từ các lãnh đạo bất tài nên bất tín, sẵn sàng bất chính ngay trong hệ thống bạo quyền độc đảng toàn trị của nó.

Tương lai luận vị Việt tộc đề nghị đi tìm gốc tự chủ vị nhân trí, bằng tri thức luận theo quá trình sau đây: ý thức đi tìm lý trí khi đã từng là nạn nhân của bạo quyền độc đảng vô minh. Từ đây, có tâm thức đi tìm nhân tri khi đã từng gánh chịu bất công của tà quyền độc trị vô lương; để có nhận thức phải đi tìm công bằng khi đã từng cam chịu bao bất đẳng tới từ sự phận biệt đối xử do ma quyền độc trị tham đặc lợi, thèm đặc ân sinh ra chỉ cho riêng chúng. Tự chủ này được triết học chính trị nhận diện qua quá trình sau đây: phải vượt thoát hệ bạo (bạo quyền, bạo lực, bạo động, bạo hành); rồi vượt khỏi hệ độc (độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn, độc đảng), để vượt thắng hệ tham (tham quyền, tham nhũng, tham ô, tam tiền). Tự chủ vì nhân trí còn được xã hội học đàm phán nhận diện qua: khả năng thay đổi hành vi khi biết chuyển hóa hành động trước bạo quyền; tiềm năng thay đổi hiện tại để chuyển hóa tương lai theo hướng tích cực; chuyển hóa não bộ để chuyển biến não trạng mà thắng bạo quyền độc đảng toàn trị.

Chuyển hóa cấp tiến não bộ để chuyển biến tích cực não trạng bằng tự chủ trong quá trình khai thác ý tưởng bên trong não bộ để biến tự do bên trong thành hành động bên ngoài xã hội. Đó là ý thức đi tìm hạnh phúc khi đã từng chịu đựng khổ đau tới từ bạo quyền; ý muốn sống trong công bằng vì đã là nạn nhân của bất công; ý định biến hiện tại xấu thành tương lai tốt; ý lực đưa hành động tự do của mình vào ngay đời sống xã hội. Tự chủ trong phạm trù của tương lai luận có lõi của quá trình tự sáng tạo để tự hành động: biết chống lại bạo quyền đang đe dọa, khống chế, đàn áp tự do bằng bạo lực, chuyển hóa não trạng ngay trong chính tri thức của tự do, không nhất thiết phải dùng bạo động để giành tự do, mà có thể xua đuổi, xóa bỏ các bạo lực chống lại tự do qua phương trình thông minh của đối thoại-đối chất-đối luận-đối trọng-đối kháng.

Biết chống lại bạo quyền phi nhân tính, vừa tha hóa, vừa đồi trụy, lại vừa vô luân, bằng hành tác tự chủ vì nhân phẩm: bằng tiếng nói, bằng trần tình, bằng biểu tình, bằng đề đạt, bằng đàm phán… để xác nhận nhân quyền, đó là quyền làm người với nhân tính, với nhân đạo. Biết chống lại bạo quyền bằng lý thuần chất của nhân phẩm, vừa dựa trên nhân lý, vừa dựa trên nhân trí, làm nên phương trình hợp lý-chỉnh lý-thuần lý để tự do sánh đôi với công bằng, để tự do bảo đảm được bác ái, trong một nhân tính không bao giờ chấp nhận bạo quyền, tà quyền, độc quyền, tham quyền, lạm quyền, cực quyền, cuồng quyền.

Chống lại bạo quyền bằng tự chủ của lý trí, bằng quyết tâm với các lý luận nhân lý: tự do trong công bằng và bác ái, luôn biết lấy tự do làm động lực cho văn minh của dân tôc. Chống lại bạo quyền bằng tự chủ đến từ nhân lý, có ngay trong nhân tính, xuất hiện từ nhận thức về nhân phẩm, ở ngoài các quy luật nhân quả chung chung của hoàn cảnh. Vì tự chủ đến từ tư duy của con người biết dựa trên nhân luận được hỗ trợ bởi đạo lý và đạo đức của nhân đạo, tức là không phải chờ mình phải là nạn nhân của bạo quyền rồi mới đấu tranh cho tự do của mình.

Tự chủ trong một không gian đạo đức của chung sống trong công bằng và bác ái trong đó tự chủ biết nội lực của luân lý chính là ý thức về trách nhiệm và bổn phận; sung lực của đạo lý chính là ý thức về các hành tác hay, đẹp, tốt, lành; hùng lực của đạo đức chính là ý thức về nhân phẩm để bảo vệ nhân tính. Tương lai luận biết dự phóng trong tương lai học biết dự phòng thường được bắt đầu bằng trực quan của tri thức, tức là bằng thấy-hiểu-thấu-nhận, với tự chủ hiểu cái tốt để làm ra cái tốt cho mình và cho đồng bào, đồng loại. Với tự chủ phải thấu cái đức để tiếp nhận hệ luận (lý luận, lập luận, diễn luận, giải luận). Với tự chủ phải tiếp thâu cái lý để đón tiếp hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức).

Tự chủ trong chủ quyết, từ quyết tâm tới quyết đoán, vì công lý của công bằng, để tự chủ bảo vệ được cái lý đúng, đúng từ định nghĩa tới diễn đạt, để tự chủ bảo vệ được cái đức tốt, tốt từ định đề tới áp dụng trong giáo dục, để tự chủ bảo vệ được cái luật minh, trong nghĩa công minh trong công pháp. Vĩnh viễn dứt bỏ cái tồi bại của các tòa án âm binh hiện nay của ĐCSVN, với các «án bỏ túi», với đám thẩm phán chỉ cúi đầu theo lệnh của bạo quyền độc đảng, có hậu đài là tà quyền thanh nhũng, ma quyền tham tiền. Với các thẩm phán chính là những tội đồ của dân tộc, với các án oan, với biến nạn nhân thành «kẻ giết người», như vụ án Đồng Tâm năm 2020; mà trên cả nước thì bạo quyền độc đảng toàn trị đã biến hằng triệu đồng bào từ dân lành một sớm một chiều thành dân oan.

Tự chủ vì nhân trí có thể được cảm nhận bằng cảm xúc, nhưng được tồn tại bằng lý luận, được bền vững qua công pháp, nơi mà pháp luật phải công nhận nhân quyền chính là quyền tự do xóa bất công, khử bạo quyền, loại độc quyền. Với tự chủ công nhận công lý phải được phổ quát qua phong trào, qua đấu tranh, qua hội đoàn, qua xã hội, qua định chế, qua cơ chế… Tự do là năng lực định nghĩa lại trách nhiệm để trách nhiệm có những định đề về công lý phải mới hơn để đúng hơn trong không gian quyền hạn của trách nhiệm chính trị, trong đó trách nhiệm hàng đầu là lãnh đạo phải liêm chính, phải liêm khiết, phải liêm sỉ khi thi hành nhiệm vụ và trách nhiệm.

Chuyển hóa não bộ để chuyển biến não trạng, xóa não trạng bị trị để xây não bộ chủ tri của quá trình tự chủ vì nhân trí có lý trí tự kiểm soát hành vi, tự kiểm định hành động của mình qua trí tuệ và đạo lý, qua trí lực và luân lý. Tự chủ vì nhân trí có trong khả năng tự điều chế đam mê, cảm xúc, xúc động dẫn tới vô tri, thượng nguồn của vô trách nhiệm. Tự chủ vì nhân trí có sự sáng suốt tự cân bằng các sinh hoạt xã hội, cộng đồng, tập thể theo quy luật công bằng, dựa trên công lý, được trợ lực bởi công tâm. Tự chủ vì nhân trí của tự giáo dục, qua kiến thức, qua tri thức để có ý thức biết tự giáo dưỡng đạo lý, đạo đức, luân lý cho mình và cho người khác. Tự chủ vì nhân trí của nhân quyền biết tự bảo vệ mình trước bạo quyền, bạo động, bạo lực, là nguyên nhân của bất công, là nguồn gốc của khổ đau.

Tự chủ vì nhân trí với quyền bảo vệ đồng bào và đồng loại trước độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị, độc đảng đã là gốc, rễ, cội, nguồn của bất tài, bất tín, bất chính, bất lương. Tự chủ vì nhân trí với quyền tự đa năng hóa trong các sinh hoạt chính trị và xã hội, dựa trên đa tài, đa hiệu, đa tri của tha nhân, dựa trên đa nguyên, đa lý, đa đảng vì nhân quyền và dân chủ. Tự chủ vì nhân trí biết bảo vệ môi sinh, trong đó có quyền bảo toàn môi trường sống, như bảo vệ để chính cuộc sống của mình. Chống ô nhiễm môi trường cùng lúc chống ngay trên cấu trúc của các tà quyền, các công nghiệp ngày ngày gây thảm họa môi sinh, đe dọa cả nguồn sống lẫn sự sống của bao thế hệ, với hậu quả khủng khiếp của tập đoàn âm binh khai thác bốc xít tại Tây Nguyên, của Formosa tại Hà Tĩnh, với bao nhà máy nhiệt điện than, bao năm qua đã cấu kết với bọn lãnh đạo âm binh từ trung ương đến địa phương của ĐCSVN.

Não Luận 3 (P3)

Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học * Tiến sĩ quốc gia trường gia Cao học khoa học xã hội Paris * Tiến sĩ xã hội học Đại học Nice-Sophia Antipolis * Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa. Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

 

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s