Phê Bình Cơ Năng Hiến Pháp (P2)

B. Tối Cao Lập Pháp

Ở đây khi sử dụng từ “lập pháp”, phải chăng LĐA muốn ám chỉ đến Quốc Hội (cơ quan soạn thảo luật pháp, thực thi Hiến Pháp, kiểm soát sự thi hành luật của Hành Pháp)? Chúng ta sẽ khảo sát sự khác biệt này.

Thực sự Tối Cao Lập Pháp tức là Trung Tâm Hội Nghị và không soạn thảo luật mà chỉ quyết định luật (điều 6, 24, và 25) do Lập Pháp Viện đệ lên. Và Lập Pháp Viện do Quốc Trưởng chỉ đạo. Như vậy cho dù Quốc Trưởng muốn Lập Pháp viện làm luật theo ý mình thì Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) vẫn có thể sửa (tu chỉnh) và phê chuẩn.

Khi nói  điều 1. “Từ quốc dân đoàn xã chính tuyển tới quốc chính dân đoàn, đó là tối cao quyền lực thể”. Phải chăng tối cao quyền lực là quyền Lập Pháp hiểu theo nghĩa thông qua các pháp luật từ bên Lập Pháp viện soạn thảo? Hay đoạn này chỉ nói lên quyền của người dân (quốc dân đoàn) từ xã đến các cấp địa phương, chọn người trong Công Dân Tầng để đề cử vào Trung Tâm Hội Nghị? Ở điều 11 nói là Trung Tâm Hội Nghị chọn ra 3 người cho chức vụ Quốc Trưởng và quốc chính dân đoàn tuyển cử làm quyết tức là ý nói Quốc Chính Dân Đoàn là thành phần đáy tầng, người dân bỏ phiếu để chọn một trong ba vị được đề nghị vào chức vụ Quốc Trưởng. Nói thế thì ở thì ở điều 1 này chỉ xác định cái quyền lực bỏ phiếu chọn người của đáy tầng (quốc chính dân đoàn). Tuy nhiên hai từ ngữ trong điều 1 này nói đến hai thành phần khác nhau. Phải chăng Quốc Dân bỏ phiếu chọn người ở Trung Tâm Hội Nghị từng cấp một mà thấp nhất là xã và cao nhất là Quốc Chính?

Vấn đề là ai có đủ khả năng và kiến thức để làm luật hay không? Lập pháp viện (20 đến 30 người) do Quốc Trưởng “sinh mệnh” bổ nhiệm. Vậy nếu Quốc Trưởng chọn người làm luật theo ý mình thì có còn gọi là Tối Cao Lập Pháp hay không khi mà luật bên Quốc Trưởng đưa ra và Trung Tâm Hội Nghị không thông qua  luật vì bất đồng chính kiến với Lập Pháp Viện?

Tuy là Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) được quyền phê chuẩn, tu cải luật do Lập Pháp viện đưa lên. Nếu có sự đôi co giữa hai bên thì Phê Phán Công Đường sẽ giải quyết ra sao? Phê Phán Công Đường có quyền đề nghị tu cải Hiến Pháp mà không được quyết định tu cải (Hiến Pháp . Điều 17). Như vậy quyền quyết định cuối cùng vẫn là Trung Tâm Hội Nghị (điều 6)

Điều 2: “Do quốc chính công dân tầng công cử ra, Trung Tâm Hội Nghị là trung kiên của tối cao quyền lực thể, đại biểu toàn thể Đại Việt hành xử quyền tối cao lập pháp”. Ai là quốc chính công dân tầng? Phải chăng là những người nằm trong cơ cấu chính quyền (công dân tầng) địa phương, được đề cử để vào Trung Tâm Hội Nghị của cấp trung ương và Quốc Dân Đoàn hay Quốc Chính Dân Đoàn (ở điều 1) bầu chọn những cá nhân này vào trong Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội)?

Trong Duy Dân, LĐA đã sử dụng “khái niệm” vòng tròn khép kín (giống như tự kỷ – ỷ tha – động tha). Nhưng vì trình bày từ trên xuống: Tối cao…. đến các Trung Tâm Hội Nghị xã, hạt, huyện…thành ra người đọc không thể biết được ai sẽ là “công dân tầng” nhưng chính Công Dân tầng sẽ tham dự, thành lập và chịu trách nhiệm điều hành các cơ quan chính quyền.

Điều 4: “Trung Tâm Hội Nghị gồm từ 250 đến 300 người”. Con số này dựa trên điều kiện nào? Nếu dân số Việt là 100 triệu thì số đại biểu này có đủ để đại diện không?

Điều 6: Cho Tối Cao Lập Pháp “quyết nghị pháp luật cương lĩnh (soạn thảo luật?)” nhưng điều 12 ghi “điều lệ tổ chức lấy pháp luật mà định, tự chế do Phê Phán (công đường) đồng ý”.

Luật pháp nào khi lần đầu tiên lập Trung Tâm Hội Nghị và Phê Phán Công Đường? Phải chăng luật của chế độ cũ? Tương quan hợp tác giữa Phê Phán Công Đường và Trung Tâm Hội Nghị có là vòng xoắn có nút thắt hay tung hợp? Vì Trung Tâm Hội Nghị chỉ quyết nghị chính sách quốc gia, pháp luật cương lĩnh, hiến pháp nguyên tắc (không phải chi tiết) nhưng không được thay đổi Hiến Pháp (điều 14). Điều 12 và 20 nói về điều lệ tổ chức (cơ cấu chính quyền) nếu tự chế thì cần có Phê Phán Công Đường đồng ý. Vậy Hiến Pháp đầu tiên sẽ ở đâu ra, ai làm trước khi có Trung Tâm Hội Nghị và Phê Phán Công Đường?

Đây cũng có thể là ý định về Đan Quyền nhưng cũng làm cho bộ máy trở nên cồng kềnh, rườm rà và chậm chạp vì đây là những vấn đề không thể giải quyết nhanh chóng được.

Điều 11: “Đề cử người bầu tuyển Quốc Trưởng (3 người) do toàn quốc thảo luận từ dưới lên trên, lấy quốc chính dân đoàn tuyển cử làm quyết”. Vậy nếu đảng (hay khuynh hướng chính trị) nào chiếm đa số trong Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) sẽ có cơ hội xây dựng Hành Pháp (Quốc Trưởng) cùng ý hướng. Và như vậy phe đối lập sẽ không có cơ hội cản trở bất kỳ những gì phe đa số (trong cả Lập Pháp lẫn Hành Pháp) muốn thực hiện. Vậy toàn quốc thảo luận và đề cử 3 người là chọn một trong 3 người làm Quốc Trưởng hay đó là Tam đầu chế? (Nếu ra đề nghị 3 ứng cử viên thì có thể hiểu sẽ đại diện cho 3 khuynh hướng. Thí dụ: khuynh hữu (bảo thủ); khuynh tả (cấp tiến) và độc lập (ôn hòa). Nhưng không phải mùa bầu cử nào cũng có đủ 3 ứng cử viên đủ tư chất. Khi tình thế đòi hỏi mà không có người xứng đáng để cử tri phải ép chọn (tự giác là điều khó thực hiện), dù không muốn, nhưng sau khi cân nhắc thì cũng phải quyết định nhân vật ít tệ hại hơn. Vậy nếu đã là nằm trong hệ tư tưởng Duy Dân thì có cần phải 3 người hay chỉ 2 là đủ?

Một giả thiết khác là khi đã nắm rõ nguyên lý của Duy Dân, tất cả những người tham chính, từ Quốc Trưởng đến Trung Tâm Hội Nghị, và những cơ quan khác trong cơ cấu chính quyền điều hành quốc gia không theo tinh thần đảng phái mà điều hành quốc gia trên cái nhìn tổng thể để điều hướng và chấp hành nhân sinh. Chuyện lựa chọn ba người ra tranh cử chức vụ Quốc Trưởng để người dân có sự lựa chọn một người trong ba người có tư cách đạo đức rất cao để được đề cử vào chức vụ này, cho nên ba người này không còn mang khuynh hướng Hữu, Tả hay Trung và con số 3 tương đối không nhiều và cũng không ít.

Điều 12: “Điều lệ tổ chức lấy pháp luật mà định, tự chế do Phê Phán Công Đường đồng ý”. Vậy nếu Phê Phán Công Đường không đồng ý thì cái tự chế của Trung Tâm Hội Nghị (Tối Cao Lập Pháp) sẽ vô giá trị và Trung Tâm Hội Nghị không thể nào sử dụng cái tự chế đó? Như đã nói ở điều 6, Trung Tâm Hội Nghị sẽ áp dụng luật nào khi chưa có Lập Pháp Viện soạn thảo và đưa lên. Nếu Trung Tâm Hội Nghị cần luật A mà Lập Pháp Viện đưa luật B lên thì giải quyết ra sao?

Điều 14 “Không được thay đổi hiến pháp, nhưng có thể đề ra hiến pháp án trước quốc dân đoàn mà thủ quyết từ trên xuống dưới lấy quốc dân đoàn xã chính quyết làm chuẩn”. Vấn đề là quốc dân đoàn sẽ có đủ điều kiện về kiến thức và quan tâm để tham dự những thay đổi về Hiến Pháp hay không? (1) Hay đây chính là thành phần đáy tầng mà họ biết rõ cần phải thay đổi hiến pháp bởi hiến pháp hiện thời ảnh hưởng đến sinh hoạt của đáy tầng dù rằng họ không có kiến thức về hiến pháp? Hay đây là sự thảo luận từ dưới đi lên để có một cái nhìn tổng thể trước khi có sự thay đổi hiến pháp và sự thảo luận rộng rãi, với nhiều thành phần tham dự để có đề nghị thực tế trước khi đi đến sự thay đổi hiến pháp? Và nếu Quốc Dân Đoàn đồng ý thì Trung Tâm Hội Nghị đưa quyết định này qua bên Lập Pháp Viện để soạn thảo sự thay đổi và đưa lại cho Trung Tâm Hội Nghị để Trung Tâm Hội Nghị đưa cho Quốc Dân Đoàn quyết định. Và nếu Quốc Dân Đoàn đồng ý với sự thay đổi từ bên Lập Pháp Viện thì Trung Tâm Hội Nghị sẽ thông qua sự thay đổi Hiến Pháp. Đây cũng là một hình thức đan quyền giữa Trung Tâm Hội Nghị và Lập Pháp Viện nhằm tránh tình trạng Trung Tâm Hội Nghị không chuyên môn về Lập Pháp để soạn thảo một văn bản thay đổi luật pháp hay hiến pháp.

Điều 16 nói về triệu tập Quốc Dân Đoàn….Vậy Quốc Dân Đoàn có phải là (hay khác) Quốc Dân Đại Hội? Trong Duy Dân Cơ Năng (tốc giảng) nói về Quốc Dân Đoàn là đoàn thể “gồm cả trai, gái, lớn, bé”, là tất cả mọi người trong nước. Công dân tầng trên Quốc Dân Đoàn, là người trực tiếp (hay gián tiếp) tham dự vào chính quyền cơ cấu từ xã, hạt, huyện, tỉnh phải có điều kiện: Tuổi 18, kinh nghiệm (?); đạo đức, tư cách; học vấn và năng lực tham chính (?), xử trí chính trị; nghĩa vụ phục vụ quốc gia. Chữ “đoàn” cho thấy sự thường trực hiện diện của tổ chức. Chữ “đại hội” cho thấy nét đặc biệt của biến cố. Như vậy sự tham dự hay triệu tập phải có ý nghĩa khác nhau.

Nếu Quốc Dân Đoàn cử đại diện tham dự Quốc Dân Đại Hội thì cái nào có trước (vấn đề “quả trứng con gà”).

Điều 20 cũng tương tự: Tối Cao Lập Pháp “quyết nghị các điều lệ tổ chức, hội nghị (hay đại hội?) của các tầng quốc dân đoàn: xã công dân đoàn, hạt chính, huyện chính, tỉnh chính và quốc chính” thì ai chi phối ai? Công dân tầng cử ra Tối Cao Lập Pháp, rồi Tối Cao Lập Pháp quy định công dân đoàn. Vậy có gì khác giữa Công Dân tầng và Công Dân đoàn? Phải chăng Công Dân tầng chỉ là giai cấp (citizenship) đủ điều kiện để tuyển chọn, đủ điều kiện để tham dự sinh hoạt chính trị (activist) còn Công Dân đoàn là những người quyết định dấn thân tham dự sinh hoạt chính trị. Hay Quốc Dân Đoàn ở phần này là những thành phần Công Dân Tầng (xã, huyện, hạt, tỉnh, quốc gia) tổ chức thành những đoàn thể Quốc Dân Đoàn mà thành viên chỉ là Công Dân Tầng?

Điều 23: “được phác thảo, quyết nghị các quốc gia kế hoạch cho tới 10 năm một kỳ”.  Kế hoạch chính trị 10 năm một lần (trong khi nghị viên chỉ được liên nhiệm 2 lần, mỗi nhiệm kỳ 4 năm, tổng cộng là 12 năm phục vụ). Khi nhân sự có thể thay đổi và xã hội cũng có thể thay đổi nhanh hơn trong thời kỳ 10 năm thì kế hoạch 10 năm dường như không phù hợp với sự tiến hóa của xã hội.

Điều 24: “Được tu cải các quyết nghị án lớp trước khi được quốc chính dân đoàn đồng ý”. Quốc Chính Dân Đoàn là ai, phải chăng là những người nằm ở trung ương hay tất cả các Quốc Dân Đoàn bên dưới từ xã, huyện, hạt, tỉnh và quốc chính? Các tài liệu trong Duy Dân có lúc đọc thì hiểu Quốc Chính Dân Đoàn là trung ương nhưng lại có chỗ lại hiểu đó là hệ thống quốc dân đoàn từ dưới lên trên.

Điều 25: “Được phê chuẩn pháp luật hay tu cải do Lập Pháp Viện đệ lên”. Vấn đề là trong Duy Dân Cương Thường nhắc tới Lập Pháp Viện thuộc Hành Chính Tổng Cơ nhưng trong Duy Dân Cơ Năng (hình 4) có đề cập Lập Pháp Viện lo chính sách thiết kế. Lập pháp (làm luật=lawmaker) và chính sách thiết kế (policy) là hai công việc khác nhau hoàn toàn. Vậy cấu trúc của Duy Nhân Cương Thường và Duy Dân Cơ Năng là giống hay khác (tại sao không giống? Và nếu khác vì lý do gì?)

Trong Duy Dân Cơ năng, hình 4, thì Lập Pháp Viện lo chính sách thiết kế. Soạn thảo hay thiết kế chính sách (policy) khác với nhiệm vụ lập pháp (soạn luật). Vậy thì người nghe, ghi sai, hay người giải thích sai? Theo Duy Dân Cương Thường thì Lập Pháp Viện thảo nghị pháp luật.

Trong Duy Nhân Cương Thường, trang 33 (bản năm 2016), điều 67 ghi là Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) có quyền thảo luận, quyết nghị và công bố bản Hiến Pháp gọi là Lập Quốc Pháp. Tuy nhiên quyền này hoàn toàn không có trong Cơ Năng Hiến Pháp trong phần Trung Tâm Hội Nghị. Và nếu Quốc Hội có quyền này phải chẳng chỉ lúc mới thành lập nhưng sau đó thì không còn được quyền này bởi điều 14 ngăn cấm?

C. Phê Phán Công Đường:

Điều 3: ” Phê Phán Công Đường là cơ quan siêu việt, bất khả xâm phạm”… có ý là vai trò của cơ quan khi phê phán hay là nhân sự phục vụ cho cơ quan sẽ có quyền “bất khả xâm phạm”? Ở đây không nói đến vai trò của cơ quan mà nói đến nhân sự.  Một khi  cá nhân được ủy thác vai trò điều hành trong cơ quan được quyền “bất khả xâm phạm” thì cái gì sẽ kiềm chế, kiểm soát cá nhân đó không lạm dụng quyền hành được giao phó?

Điều 4: khi tổ chức một cơ quan như Phê Phán Công Đường mà họp tổ 300 đến 500 người thì khó mà thực hiện. Lại còn phải là “thạc đức” (đức độ cao?) thì đâu có dễ tìm. Dựa vào tiêu chuẩn nào để đánh giá cá nhân đó có đức độ cao? Ai sẽ đặt ra tiêu chuẩn đó? Thêm nữa những người này do Trung Tâm Hội Nghị và Kê Sát Viện (phần Ất-Hành chính, bộ phận Khảo Hạch) chủ tuyển nếu những cá nhân không nằm trong công dân đoàn hay gồm cả những người trong Công Dân Đoàn? Vậy thì Kê Sát Viện phải có trước Phê Phán Công Đường, mà như thế thì ai kiểm soát Tối Cao Quốc Thể (Quốc Trưởng) và Tối Cao Lập Pháp khi chưa có Phê Phán Công Đường? Và để phê phán về luật pháp thì không phải ai cũng đủ khả năng để phân tích, bàn luận về luật nhất là diễn giải Hiến Pháp. Nếu Phê Phán Công Đường nhìn vấn đề sai thì ai sẽ điều chỉnh cái sai của Phê Phán Công Đường hay vì đã nắm được Duy Dân, Phê Phán Công Đường giải quyết vấn đề để phục vụ quyền lợi của tập thể cho phù hợp với quyền lợi của đất nước cho nên không có sự sai lầm? Hay Kê Sát Viện có thể đứng ra can thiệp khi Phê Phán Công Đường có quyết định sai trái khi xét các án hành chính tố tụng hoặc hiến pháp tố tụng? Có thể nói rằng, các cơ cấu trong Cơ Năng Hiến Pháp đan với nhau và bị kiểm soát lẫn nhau ở nhiều cơ quan để tránh sự lạm quyền. Một vấn đề đặt ra là phải chăng những người được đề nghị vào trong Phê Phán Công Đường không có sự bỏ phiếu của người dân mà chỉ là sự lựa chọn của thành phần trong Công Dân Tầng (người đã tham gia trực/gián tiếp và cơ cấu cầm quyền) và nếu từ là người dân bên ngoài phải được sự đồng ý của Trung Tâm Hội Nghị và Kê Sát Viện.

Ở đây cho thấy LĐA chỉ đưa ra khái niệm, chưa có đủ chi tiết vì không đủ thời gian hay chưa có người hội ý. Vì vậy người đời sau cần phải thảo luận kỹ, chi tiết để giải quyết mọi thiếu sót, nghi ngờ.

Điều 13 “Kỳ đại hội, Trung Tâm Hội Nghị phải thỉnh lệnh ở Phê Phán Công Đường “. Vậy khi chưa có Phê Phán Công Đường thì Trung Tâm Hội Nghị thỉnh lệnh ai? Phê Phán Công Đường – từ 300 đến 500 người. Số người quá đông sẽ khó có quyết định thống nhất – do Trung Tâm Hội Nghị và Kê Sát Viện chủ tuyển (điều 4).

Điều 14 “Kỳ đại hội, Quốc Trưởng phải xuất tịch báo cáo và chịu huấn giới”. Nếu Quốc Trưởng không tuân hành thì có biện pháp nào không? Chỉ có Trung Tâm Hội Nghị đề nghị người ra ứng cử chức vụ Quốc Trưởng vậy thì khi Quốc Trưởng không thi hành điều 14 này, do sự yêu cầu của Phê Phán Công Đường, thì phải chăng Trung Tâm Hội Nghị có quyền trút phế Quốc Trưởng trước hành động vi hiến của vị Quốc Trưởng?

Điều 17 và 18: “được đề nghị tu cải mà không được quyết định tu cải” và “kiểm thảo pháp luật”. Vậy khi Phê Phán Công Đường tìm ra luật thiếu sót (loophole) mà Lập Pháp Viện có chịu sửa đổi hay không? Phê Phán Công Đường có khả năng gì để ép buộc (enforce) sự tu cải? Phê Phán Công Đường và Trung Tâm Hội Nghị đều do Công Dân đoàn cử ra. Vậy khi hai bộ phận này có xung đột thì giải quyết ra sao? Hay Kê Sát Viện (bộ phận hành chính ) đứng ra để giải quyết xung đột?

Điều 22 “Khoáng trương được quyền triệu tập hội nghị toàn quốc tu cải hiến pháp khi được 4/5 người đến họp đồng ý”. Nếu điều 17 nhận định là Trung Tâm Hội Nghị đề nghị tu cải hiến pháp mà không được quyết định tu cải thì phải chăng điều 22 này, sự tu cải phải được triệu tập hội nghị toàn quốc? Mà hội nghị toàn quốc gồm những ai trong việc tu cải hiến pháp?

Trong Duy Nhân Cương Thường, trang 33 (bản năm 2016), điều 69 ghi là Phê Phán Công Đường có quyền giải thích hiến pháp nhưng trong chính Phê Phán Công Đường không ghi rõ quyền này mà quyền này rất là quan trọng để biết bộ phận nào giải thích Hiến Pháp. Mà nếu Phê Phán Công Đường được giải thích Hiến Pháp thì những người trong cơ quan này có đủ trình độ chuyên nghiệp, kinh nghiệm cuộc sống để giải thích Hiến Pháp hay không?

Phê Bình Cơ Năng Hiến Pháp (P3)

Trần Công Lân

Tháng 11 năm 2019 (Việt lịch 4898)

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s