Giá trị của lập luận giáo lý
Nỗi niềm giáo lý Việt tộc cũng là khả năng vạch mặt chỉ tên các hành vi vô nhân, các hành động bất nhân, không tôn trọng dân tộc, không trân quý tiền đồ tổ tiên, đây là tình cảm của luân lý mà cũng là lý tính của đạo lý của chúng ta. Vì chúng ta tin trong mỗi công dân Việt luôn có một sung lực để làm được chuyện giữ nước, để cái tôi thương dân làm ra cái ta thương nước, cái tôi này không cần có chỗ đứng riêng rẽ, kiêu căng, tự đắc, vì nó có chỗ dựa rất lớn và rất mạnh là cái chung, làm ra nền, cột, mái, tường cho cái ta, biết tự tôn trọng mình trong dấn thân, biết giữ lòng yêu nước mình như giữ nhân phẩm mình, biết quý trọng mình như biết kính trọng tổ tiên, tiền nhân. Lấy sáng kiến để sống đúng, qua quyết định đúng, để hành động đúng. Như vậy nỗi niềm giáo lý Việt tộc đúng, sẽ đưa tới dân tộc mình có lối sống đúng, dựa trên một chế độ chính trị đúng, từ đây nỗi niềm giáo lý Việt tộc sẽ có được một suy nghĩ đúng về công bằng (égalité), làm cơ sở cho công lý (justice), làm chỗ dựa cho tình cảm luân lý (sentiment moral). Cái lừa đảo trong điêu ngoa trong phản xạ tham nhũng hiện nay, nơi mà nhân phẩm vắng tanh trong con tính hằng ngày của những kẻ muốn giành quyền để giành tư lợi, thì vô tình họ đã đưa cái cái vô đạo đức của họ nhập nội vào cái vô giáo dục, cái vô văn hóa vào quan hệ xã hội, luồn tuông vào cái vô tri thức của họ vào hành vi cộng đồng, chúng ta không trông mong họ có hoặc họ hiểu gì về nỗi niềm giáo lý Việt tộc! Mỗi lần có sự vắng mặt của cái biết (biết đối nhân xử thế; biết người biết ta; biết trên kính dưới nhường) là mỗi lần Việt tộc bị đe dọa. Trong nỗi niềm giáo lý Việt tộc này, cái nhân Việt (tình thương tức khắc với dân tộc) luôn song hành cùng cái nghĩa Việt (lòng yêu nước bền lâu với tổ quốc), nhân Việt và nghĩa Việt là hai giá trị chủ đạo cho mọi nỗi niềm giáo lý Việt tộc, trong đó dân tộc làm nên sự nghiệp của một triều đại, trong đó nhân dân làm ra một lẽ phải của một chế độ. Nhân của tộc và nghĩa của dân là nội công tư tưởng trong nỗi niềm giáo lý Việt tộc, vì nhân Việt và nghĩa Việt là gốc, rễ, cội, nguồn của giáo lý Việt tộc, nền của đạo thờ tổ tiên, khung của đời sống làng nước, gân cốt của các thế hệ đang trưởng thành, vì nó làm ra cốt cách cho tư cách hiếu, phong cách trung, nhân cách dũng của Việt tộc. Các giá trị này không hề rời rạc, lẻ loi, lạc lõng, mà đã thành hệ thống hoàn chỉnh, bởi chính ý lực của đạo lý, đủ sức làm nên hành lực cho luân lý trong xã hội, đủ vai vóc làm nên sung lực tương tác trong gia phong, biết tương trợ lẫn nhau để các thế hệ giữ được phong tục tốt, tập quán hay cho nhau. Để nhân phẩm luôn là nội tạng cho nhân lý, để nhân tri luôn là huyết mạch cho nhân sinh. Nhưng các giá trị này đang bị đe dọa trong xã hội hiện nay ngay trên quê hương Việt Nam của chúng ta, nơi mà người với người sẵn sàng truy diệt, hãm hại, thanh trừng nhau vì tiền, vì vàng, vì đất, vì nhà… tức là vì những thứ thấp hơn nhân đạo, nhân trí, nhân nghĩa.
Không có các giá trị đạo lý và luân lý thì sẽ không có giá trị cá nhân để hướng dẫn hành động cá nhân gần tình thương đồng bào, vì tình thương này đẩy ra xa cái ích kỷ, vì cái ích kỷ rất dễ trở thành vô nhân, tức là vô giá trị nhân bản. Các giá trị đạo lý làm nên tình cảm luân lý giữa chúng ta luôn được ta xem là xứng đáng trong nhân sinh quan (thương người như thể thương thân) của chúng ta, vì giá trị này, tình cảm này trên thượng nguồn đã được xem là đúng, chính cái đúng này sẽ tạo ra cái hay trong đạo lý, cái đẹp trong giáo lý, làm nên thế giới quan (trong ấm ngoài êm) của chúng ta, làm nên vũ trụ quan (mưa thuận gió hòa) của chúng ta, trong cách đối nhân, xử thế (trên kính, dưới nhường) của Việt tộc. Như vậy, giá trị đạo lý làm nên tình cảm luân lý, đã từ lý trở thành đạo (đạo chớ không phải tôn giáo, đạo là đi tìm hướng đi đúng, tôn giáo đi tìm hướng tới để tôn thờ). Nếu mỗi quyết định, mỗi hành động đều có chỗ dựa là giá trị đạo lý để làm nên tình cảm luân lý, thì cái đáng, cái đúng, cái hay, cái đẹp lại có thêm cái lý và cái đạo trợ lực thì sẽ làm ra cái bền, đủ gân cốt để làm nên cái lệ, rồi dần dà trở thành cái luật, sẽ được sử dụng trong luật pháp, đủ nội lực điều chế các thành phần xã hội đang chần chừ, phân vân, lưỡng lự. Sinh lực của luật pháp đủ sức nói rõ, nói giùm, nói hộ cho luân lý: bổn phận và trách nhiệm của mỗi người, rồi phân công và phân bố các bổn phận và trách nhiệm này qua các định chế.
Luân lý và luật pháp luôn có mặt trong quan hệ xã hội, theo Durkheim thì nó nằm ngay trong phân ngành và phân nghề, theo Weber nó còn có sung lực làm ra cơ may cho mỗi người: thành công qua học đường, trưởng thành qua nghề nghiệp, thăng hoa qua kinh tế, tăng vị trong xã hội; mà Elias giải thích các cơ may này làm cho các quan hệ xã hội được bền vững, được dài lâu. Ba tổ sư này của ngành xã hội học đã nêu rõ ba chuyện hệ trọng trong xã hội: phân công trong xã hội tạo ra cơ may trong quan hệ xã hội, củng cố các cơ may này là củng cố các hệ luân lý của xã hội; đối với một dân tộc thì ba chuyện hệ trọng này đã là ba cái nền cho một quốc gia tồn tại. Tham quyền sinh ra tham nhũng hiện nay vừa là một cái bẫy truy hại nhân lý, vừa là vũng bùn của nhân sinh, vì chúng hủy diệt cái liêm chính của phân công, cái liêm sỉ của cơ may, cái liêm khiết của các hệ luân lý. Những kẻ tham quyền để trục lợi, phải chụp để giựt, phải nuốt mà không nhai, ngấu nghiến cho tới nghẹn, vùi dập dân chúng vào bùn đen (nên họ mới thành dân đen), đè dẫm dân nghèo vào hố sâu (nên họ mới thành dân oan), chúng thiêu hủy mọi tình cảm luân lý đồng bào, vì nhân tâm đồng loại của chúng đã tàn rụi từ lâu. Phản xạ tiền bạc đã thành cử động hàng ngày của tham ô, sống để kiếm tiền, cầm quyền để tìm lời, nắm chức để sinh lợi, biến chuyện buôn lời thành chuyện buôn người, nhẫn tâm biến đồng bào lương thiện mình thành lao nô qua xuất khẩu lao động, qua lao động chui, bọn này không hề có lương tâm, lẫn danh dự, không hề có liêm sỉ lẫn tự trọng, để đưa dân tộc vào con đường sáng tạo để làm chủ, để tránh phải đi làm công; với lương thấp, điều kiện lao động tồi, bọn này không hề có tư duy thông minh để học các thành công của Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc đã làm chủ, bỏ kiếp làm công; Việt Nam có cùng một nôi văn hóa, văn minh, văn hiến tam giáo đồng nguyên với các quốc gia này, tại sao: họ giàu, ta nghèo? Họ cao, ta thấp? Họ hay, ta dở? ….
Bọn tham ô chủ trì tham nhũng hiện nay, chỉ thấy con tính trước mắt không vốn nhưng lời nhiều, đã nuôi nấng và phổ biến nhân sinh quan ký sinh trùng của chúng trong xã hội Việt, nơi mà tư lợi là thu lợi, bám quyền để ăn lén-ăn lời! Chúng ngày càng lộng quyền trên đất nước của Việt tộc, chúng bòn rút vốn liếng của dân, chúng định chế hóa chuyện vơ, vét, chụp, giựt của chúng, từ tiền tới đất, thì kiếp nghèo, phận thấp, nghiệp dở còn đeo đuổi dân tộc Việt. Chúng còn tự khoe là «làm giàu mà không cần vốn», chúng không hề ngượng về tư cách mượn đầu heo nấu cháo của chúng, chúng hít thở, vui chơi trong điếm nhục mà cứ tưởng là sang trọng, hoàn toàn vô cảm trước cảnh đói nghèo, ghẻ lạnh của đồng bào mình. Chúng không biết giá trị của lập luận giáo lý thì làm sao chúng có nỗi niềm giáo lý Việt tộc, chúng tuyên truyền các mô hình luân lý đơn điệu, một chiều, chớ chúng không bao giờ trực diện để đối thoại với trí thức-để có tri thức-để có phương hướng đưa Việt tộc thăng hoa. Vì gặp trí thức tức là gặp kiến thức trong lý luận đạo lý, gặp ý thức trong lập luận giáo lý, gặp để phải giải luận đạo đức các hệ vấn đề gay gắt của nhân lý và nhân trí. Không có tri thức, kiến thức, ý thức trong lý luận, lập luận, giải luận mà chúng vẫn ăn trên ngồi trốc, nghiệp chướng này phải được Việt tộc giải oan càng sớm càng hay. Buôn quyền để buôn tiền, cướp của dân đen rồi cướp đất dân oan, lấy gian lận để vùi nhân cách, đừng trông chờ chúng để làm rõ nhân phẩm trong nhân quyền, nhân trí trong nhân tri, vì nhân đạo không có mặt trong con tính tự lợi của chúng, nhân nghĩa không có chỗ trong tư duy hằng ngày của chúng, sống giữa nhân thế nhưng chúng ngày càng xa rời nhân tính, nhất quyết chúng ta không để chúng dắt Việt tộc vào lối vô nhân này. Buôn quyền để buôn tiền, chúng sống thành bầy đàn trong các đường dây quyền lợi tăm tối, các mạng lưới của xã hội ngày càng đen, chúng luồn tuông trong tà quyền để chế độ hóa tham nhũng, lập cơ chế chìm để lũng đoạn cơ chế nổi, thối tha hóa các định chế qua phản xạ tham ô, đút lót, cá mè một lứa, chúng có ngôn ngữ riêng của chúng: bốt, hốt, chụp, giật, vì tư duy của chúng đã bị ung thư, cái ung thư phản giáo lý đang ăn mòn tất cả tình cảm luân lý của chúng, rồi lan dần, lan rộng ra các sinh hoạt xã hội, làm ung thư mọi đạo lý cá nhân, mọi luân lý cộng đồng. Bòn rút tận xương tủy người khác là lẽ sống thường nhật của chúng, cái bất nhân trong con tính tư lợi luồn chui vào quan hệ xã hội bằng ngõ ngách lúc ăn bám, lúc ăn cướp của chúng theo kinh nghiệm sống vì tiền của Mã Giám Sinh và Tú Bà: «người còn thì của hãy còn». Trước trò đểu của bọn tội phạm môi trường Formosa, «xin lỗi» với 500 triệu USD, nhử vào miệng bọn tham nhũng vì tham tiền này, dân ta không lầm trong năm 2016, khi ra câu ngạn ngữ mới để tự dặn lòng là phải luôn tỉnh táo: «Formosa xin lỗi, chính quyền nhận tiền, nhân dân nhận hậu quả!».
Chúng ta phải làm hai chuyện trong cuộc sống hiện nay cho đồng bào, cho quyến thuộc: loại cho bằng được bọn ký sinh trùng ra khỏi đạo lý của chúng ta; và tìm cho ra các kháng thể, kháng tố mới để bảo vệ thể lực cho đạo lý, thể phách cho luân lý. Khi chúng ta phải gặp chúng trong cuộc sống, chúng ta bảo vệ nhân cách của chúng ta bằng các định đề của nhân tính, nhân đạo, nhân phẩm, nhân quyền, nhân tri, nhân trí, nhân nghĩa… chúng ta nói cho chúng biết là sống phải có tình, có nghĩa… mới có hậu. Vì sao? Vì bọn buôn quyền để buôn tiền này, chúng đâu biết là chúng đang đi vào con đường triệt hậu! Bọn có quyền nhưng vô hậu này sống trong thảm kịch mà chúng không biết; vì chúng không tôn trọng công bằng, nên không biết nội lực của công lý, chúng tạo ra bất công để sau này sẽ bất lực trước công lý, khi vào đường cùng! Tại sao lại đường cùng? Vì có một định đề bất biến trong đạo đức học: lời nói là lời hứa, lời hứa là dấn thân, dấn thân để bảo vệ lời hứa, lời hứa làm nên lời hẹn, dấn thân làm nên luân lý, là thước đo giữa sự thật làm nên chân lý, để bảo vệ lẽ phải. Từ đó lẽ phải có nội công vạch trần mọi xảo trá, lột mặt nạ mọi điêu ngoa, và ngày tàn của chúng luôn thật bi đát trong điếm nhục, trong ghẻ lạnh của công lý quốc gia, công pháp quốc tế! Có (sự) thực mới vực được (đúng) đạo luôn sánh vai cùng quang minh chính đại, đi giữa thanh thiên bạch nhật, trong nhân cách đường đường chính chính, trong phong cách thẳng lưng mà bước của các công thần của Việt tộc (Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung…). Bọn buôn quyền để nạo tiền này, khi chúng nói về đạo là để lừa người, khi chúng bày chuyện diệt tham nhũng, chống tham ô là để hãm hại nhau, khi chúng ra chính sách mới là chúng đang dàn cảnh cho một cuộc gian lận mới. Khi chúng gồng hơi để nói là chúng đang thật sự cúi đầu, làm lờ, chớ không dám gặp, dám nói chuyện tử tế với những người thật sự có chính nghĩa, có nhân đức, khi chúng tạo ra nghị quyết mới là đang đóng kịch để lập ra các trò ma đạo mới. Rơi vào ma đạo thì chỉ có thể trở thành ma bùn.
Nhân Tình Nhân Thế (P4)
Lê Hữu Khóa
Giáo sư Đại học* Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu Việt Nam học của Lê Hữu Khóa có thể tham khảo qua facebook VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa).