Duy Dân Cơ Năng Diễn Giải (P2)

CÔNG VIỆC

Công việc là gì?

Khi loài người còn thuở sơ khai thì công việc có nghĩa là kiếm ăn, nơi cư trú. Khi con người thành lập xã hội, nhận diện gia đình, chủng tộc, sắc tộc, bộ lạc, quốc gia… thì công việc mang nhiều ý nghĩa hơn. Rồi sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị và đặc biệt là cách mạng khoa học mở ra những nhu cầu về công việc nhiều hơn, phức tạp và cầu kỳ hơn.

Loài người đã đi từ giai đoạn chỉ lo kiếm miếng ăn sống qua — cho tới đời sống có nhiều tiện nghi vật chất nhiều hơn nhu cầu nhu yếu. Nhưng sự dư giả không làm cho đời sống con người hạnh phúc hơn mà trái lại khiến con người miệt mài làm việc, tạo việc mới, nhu cầu mới… để có nhiều của cải hơn. Và vì vậy con người đi đến chiến tranh trong khi nạn đói vẫn tiếp diễn ở một nơi nào đó trên thế giới.

Như vậy có gì sai lầm trong công việc. Con người tạo công việc, chọn công việc và thực hiện công việc. Trong tiến trình đó phải có chỗ (điểm tụ) khởi sai lầm. Chúng ta hãy khảo sát Lý Đông A (LĐA) nói gì về công việc.

Theo LĐA công việc là biểu hiện qua nhiều cách của đời sống con người qua thời đại và tạo nên văn minh nhân loại. Qua công việc, đời sống con người tiếp xúc nhiều hơn với thiên nhiên (vũ trụ). Tương quan đó được biểu hiện bằng số (do con người đặt ra). Con người chịu chi phối bởi thời gian và không gian và công việc thì có 3 mặt: trước việc, đang việc và sau việc.

[Sự kiện so sánh công việc với 3 điểm: đây-đó-kia (không gian) số biểu hiện 3,5,7, khởi điểm là 1, chung điểm là 9; biến là 10. Tại sao như vậy thì không thấy giải thích. Vậy thì LĐA đã quên nói ra hay người sau chép lại bỏ sót hay nghe không kỹ mà ghi như vậy.] Chỉ có giải thích duy nhất là LĐA dựa vào lý số (Dịch Lý). Vậy chỉ có ai hiểu Dịch Lý thì hiểu tại sao LĐA nói như vậy.

Trước việc là phải có điều tra, tìm hiểu công việc đòi hỏi những gì để chuẩn bị tinh thần và vật chất và có kế hoạch. Trọng tâm là kế hoạch.

Đương việc là sự chấp hành (thi hành), các sự biến liên hệ đòi hỏi tiếp tế (phát triển rộng ra hay ngưng). Trọng tâm chuyển với biến.

Sau việc là có kiểm soát, chứng minh, đúc kết thành quả công việc, bảo đảm sự an toàn về sau. Trọng tâm là phải nghĩ những gì có thể xảy ra sau khi công việc làm xong.

LĐA còn đưa ra cái nhìn ngoài ý về cái nhìn về không gian và thời gian của công việc “bàn căn” (bản thân công việc, trọng tâm công việc); “thác tiết” (những biến chuyển phát sinh khi công việc tiến hành); “ý ngoại” (là sự phòng bị những bất ngờ có thể xảy ra, tốt/xấu thì sẽ phản ứng ra sao). Xác định ranh giới của công việc (thắng, bại) và giá trị tâm sinh lý.

Vũ trũ của loài người là sinh mệnh

Thiên nhiên (vũ trụ) có loài người thì mới được ghi nhận và ngược lại loài người có sinh mệnh (cuộc sống) là nhờ vũ trụ ưu đãi để hiện hữu. Để ý thức được sự ưu đãi đó thì con người phải nhờ khoa học và triết học làm gốc mà công việc (sự thực hiện) chỉ là ngọn. Tu dưỡng để có ý thức đúng đắn về sức sống của sinh mệnh và sự làm việc (công việc) để nâng cao đời sống (hay có thể tiêu diệt). Cho nên tu dưỡng Tính-Tâm-Thân-Mệnh là gốc; kỹ thuật về những phạm trù của đạo đức, học thức, sự nghiệp, hoạt động giao tiếp chỉ là ngọn. Công việc có thể gọi là hình thức (sinh hoạt) của sinh mệnh.

Tâm thuật là chủ, kỹ thuật là phó (phụ) áp dụng cho cả Chính-Chiến-Thể-Luận. Nếu Tâm thuật là Thủy kế (trôi chảy như nước) thì kỹ thuật là chủ kế với khách kế qua tác dụng trực tiếp (đầu xạ) và phản xạ của Tâm thuật thì mới hoàn thành sự vận dụng tinh thần Vạn Thắng.

Bốn công chủ nghĩa

  1. Công bản chủ nghĩa là tư bản sinh sản do công lao của toàn dân trong quốc gia. Tài nguyên trên lãnh thổ là là nguồn lợi sản xuất thuộc về công cộng.
  2. Công lao chủ nghĩa là sự triệt để áp dụng Nhân quyền (hiến chương) của xã hội, người dân lao động (làm việc) trong bất cứ ngành nghề nào đều trực tiếp nằm trong kế hoạch quốc gia trên căn bản Phân Công-Phân Mệnh-Phân Lợi.
  3. Công phối chủ nghĩa là sự phân phối các tài nguyên, sở hữu đất đai, những sáng kiến, thành quả do nghiên cứu, thí nghiệm đều do quốc gia thống nhất thi hành.
  4. Công độ chủ nghĩa là các nguồn tài chính quốc gia do cộng đồng chi phối, của công-tư, sở hữu (tư hữu) và thù đãi (trả công) cho việc công hay tư đều do quốc gia xử lý.

Lâm thời tổ chức

Khi các cơ cấu, hệ thống quốc gia chưa thành hình vì chưa đủ người làm việc. Việc hành chính sẽ coi như quân chính (quân đội phụ trách). LĐA đề nghị lấy Xu Mật Viện (Chỉnh Lý Viện) xử lý các hoạt động chính trị và hành chính, đồng thời sửa soạn cho việc thành lập Cơ Năng Hiến Pháp.

Trung khu liên tịch hội nghị

Xu Mật Viện và Hành Chính Viện (các bộ) triệu tập các hội nghị để giải quyết các sinh hoạt quốc gia, điều chỉnh từng bộ, liên lạc ý kiến, phương châm hoạt động giữa chính trị và hành chính qua Trung Khu Liên Hợp Hội Nghị. Trung Khu Liên Nghị cho giới hành chính, tài chính, kinh tế, văn hóa…

Quốc sách căn bản Thắng Nghĩa Quốc gia và Cơ năng Hiến pháp

Nguyên lý quốc gia cơ năng dựa vào nguyên tắc Tung-Hợp kết thành quyền lực quốc gia, ý chí nhân dân và luật tắc về nhân sự. Tổ chức lập pháp quốc gia phải có quy mô, gồm pháp trị và nhân sự phối hợp với nhau thành cơ năng sinh hoạt theo chính trị nhất nguyên (tung hợp của chính quyền và trị quyền); Tung hoành nhất quán (tung hợp của hệ thống dọc và ngang); Động Tĩnh nhất khu (tung hợp của thời kỳ Tĩnh và Động); Quyền năng nhất thống (phối hợp phạm vi quyền lực và khả năng làm việc); để đạt quốc gia tổ chức hòa hài qua tung hợp chính trị và hành chính.

CHÍNH TRỊ

Xem Cơ Năng Hiến Pháp Một Góc Nhìn (sẽ đăng trong tháng 11 & 12/2021)

CƠ NĂNG QUYỀN CHẾ

Xem Đan Quyền (xem Cơ Năng Hiến Pháp Một Góc Nhìn trong tháng 11 & 12/2021)

CƠ NĂNG CHÍNH TRỊ LUẬN

(Quyền Hành Chính Pháp luận)

Quốc gia là hư danh, trong khi đó đời sống dân chúng mới là thực thể, là cơ cấu kết hợp bằng sự hoạt động của dân tộc trên suốt chiều dài lịch sử. Vận động phát triển theo quy tắc của Duy Dân Xã Hội Biện Chứng Pháp. Cho nên bản chất của quốc gia sẽ như thế nào là tùy theo nền tảng (khi thiết lập) và điều kiện của thời đại (đang có) với văn hóa kết hợp mà thành, các tác dụng thay đổi nội dung qua từng giai đoạn, từng thế hệ. Cho nên quan niệm về lý tắc của quốc gia phải phù hợp với lý tắc của thực thể tiến hóa, với thực thể của chính nghĩa. Dân tộc là nguyên tắc và nhân tố chủ yếu của các vận động lịch sử. Dân tộc là bản vị của quốc gia, không có dân tộc là không có quốc gia. Mục đích thành lập quốc gia là tác dụng của dân tộc khi thấy cần (thủ đoạn). Mục đích phải có thì thủ đoạn (phương cách) mới đi đôi với tác dụng. Luận về quốc gia như thế mới đích xác.

Như thế chủ quyền quốc gia là tổng tác dụng của cuộc vận động về đời sống dân tộc và dân chúng (toàn dân) trên lịch sử và văn hóa thực tiễn hun đúc nên một ý chí thống nhất về ý thức (lý trí, tình cảm, suy nghĩ) với kinh tế (cơ nghiệp, năng lực, vũ lực) biểu hiện ra bằng sự quyết định, xác nhận, dẫn dắt và xếp đặt đời sống, đường đi của tự mình làm nên lịch sử và thế giới. Chủ quyền là tổng tác dụng của quốc gia coi làm bản vị, sự quyết định chủ quyền thuộc vào đâu là nhờ đến sự vận dụng Duy Dân biện chứng pháp của các Cơ Năng, tầng cấp và thể hệ (kết thành hệ thống) của dân tộc cho từng mối kết hợp. Quyền lực như thế là sự nối dài chủ quyền thực tiễn qua sự bắt buộc và thói quen. Sự phục tòng (lý trí) yên tâm (ý chí) và ủng hộ (tình cảm) của các cơ năng trong dòng sống quyết định cái tồn tại của quyền lực, pháp lực với chính trị. Chỉ có một dân chúng trong đời sống bình sản kinh tế và có sẵn một tổ chức gốc theo tinh thần vô chính phủ của nền dân chủ Duy Dân, phối hợp với nền giáo dục vững mạnh mới tái lập được một trạng thái quyền lực ở toàn dân và phục tòng bởi toàn dân.

[Tinh thần vô chính phủ phải hiểu là tinh thần mỗi cá nhân trong xã hội phải tự mình làm chủ lấy chính mình. Sự làm chủ này chỉ xảy ra khi mỗi con người phải có sự tu dưỡng qua một hệ thống giáo dục, giáo dưỡng để mỗi con người trong xã hội thấy được sự tu dưỡng ra sao, tu dưỡng như thế nào. Lúc đó chính phủ chỉ là người điều hành quốc gia để sinh hoạt được hài hòa ở toàn thể trên đất nước. Không có tu dưỡng để có một con người Duy Dân hầu tạo ra một xã hội Duy Dân và một chính quyền Duy Dân thì thuyết Duy Dân chỉ là lý thuyết suông, không thực tế bởi người ta có thể lợi dụng thuyết Duy Dân, Cơ Năng Hiến Pháp Duy Dân để ăn trên nằm trước như các chính quyền trên thế giới hiện giờ]

Đời sống quốc gia có sinh mệnh tiến hóa và chính nghĩa là dựa vào sự xóa bỏ (đạp đổ) ranh giới của thống trị và bị trị để cho quyền lực thích ứng với quyền lý xã hội hóa.

[Cơ Năng Hiến Pháp của Duy Dân là cơ cấu chính quyền thiết lập dựa trên Bản Vị và Cơ Năng mà các đơn vị trong chính quyền phải nương tựa vào nhau để phục vụ đời sống của quốc dân trên căn bản của Duy Nhân Cương Thường. Cơ Năng Hiến Pháp đó có những định chế để kiểm soát những người cầm quyền thiếu nhân phẩm, nhân cách; và có những định chế để kiểm soát tòa án khi mà tòa án cũng như cơ cấu cầm quyền có quyết định sai lầm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Đây chính là cơ chế không còn ranh giới giữa thống trị và bị trị. Xem Cơ Năng Hiến Pháp Một Góc Nhìn trong tháng 11 & 12/2021]

Loài người sống phải có nguyên tắc và cách sống của loài người, không Duy Tâm mà cũng không Duy Vật, cho nên pháp luật không thể chỉ là vật chất hay mặc khải (do thượng đế truyền). Pháp luật là tác dụng biểu hiện công dụng của chủ quyền phù hợp với sinh mệnh thực tại (có tiến hóa và chính nghĩa). Pháp luật (thành văn hay bất thành văn = tục lệ) từ Hiến Chương, Công Pháp, Tư Pháp đều là tác dụng đó.

Cho nên chính trị của Duy Dân và Cơ năng Hiến Pháp đúng như nguyên tắc trên suy ra, bác bỏ Duy Tâm, Duy Vật, Duy Sinh hay Thực Dụng chủ nghĩa. Chính trị là thiết kế và chấp hành dân sinh mà giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị, là hành động của quốc gia thực hiện đời sống thực tiễn của dân tộc. Chính trị là kiến trúc của loài người để xây dựng xã hội theo đạo lý của sinh mệnh và thực tiễn qua Duy Dân biện chứng pháp.

[Giáo dục và giáo dưỡng đóng vai trò rất quan trọng. Chỉ khi nào người dân thấy rằng chính trị là thiết kế và chấp hành chứ không phải là để ăn trên nằm trước thì lúc đó người dân mới thấy được trách nhiệm của chính mình trong tiến trình thiết kế và chấp hành nhân sinh chứ không để mặc cho giới cầm quyền làm chuyện đó. Đây là hệ thống chính trị mà toàn dân tham dự chứ không phải chỉ những người cầm quyền ra luật và dân phải nghe theo, không có đủ sức mạnh để chống lại luật chỉ mang lợi ích cho các công ty lớn.]

Nếu sinh hoạt xã hội là bản vị; ý thức kinh tế là cơ năng; sinh mệnh là nhân tính thì sự thực hiện phải bao gồm cả hôn phối (lập gia đình) và kinh tế.  Đó là 2 nhân tố quy định nguyên lý số học về một đường lối chính trị đúng hay sai dở.

[Như chúng ta thấy hiện nay kinh tế tư bản khiến con người lao đầu lo làm giàu và hưởng thụ, quên đi việc lập gia đình hay có mà không sinh con vì kinh tế: hao tổn tinh thần và vật chất. Trong khi xã hội cộng sản thì nhà nước lo hết, con người chỉ sống theo sự điều khiển của chính quyền thì cũng chỉ là con vật.]

ĐẠO LÝ CỦA CHÍNH TRỊ

I. Duy Dân Biện Chứng Pháp

Theo Duy Dân biện chứng pháp, chính trị là sự vận hành do con người tự trị trong đời sống tự nhiên. Khi con người biết đặt vấn đề (căn bản mệnh đề) để bắt đầu có nhận thức (căn bản nhận thức) và sống theo nguyên tắc (căn bản luật tắc) và cách thức của loài người (căn bản phạm trù). Hoạt động của con người làm nên lịch sử. Hoạt động của xã hội loài người làm nên chính trị (hiện tại) và lịch sử (quá khứ). Chính trị là động, là thay đổi mới cũ, tiến hóa theo thời gian và không gian từ bản vị đến cơ năng qua sinh-hóa-khắc-chế. Cho nên nguyên lý của chính trị bắt nguồn (gốc) từ sinh mệnh. Thực chất chính trị đi theo với xã hội vận động qua điều kiện của mỗi nút kết (điểm) của sinh mệnh với hoàn cảnh lịch sử.

II. Bản chất của chính trị ở ngay trong quy luật của khởi điểm.

Loài người sống là thực hiện sinh mệnh. Chính trị là Tâm thuật để cởi những nút kết (điểm then chốt) trong đời sống. Tác dụng tuần hoàn của Tâm và Vật là xã hội; sức người làm biến đổi vật chất là kinh tế; Tâm với sức là chính trị. Tất cả góp thống nhất thành dòng sống văn hóa.

Cho nên chính trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh bằng tâm thuật để giải tỏa những nút kết, cải tạo và sáng tạo cuộc sống con người trong xã hội để làm nên lịch sử.

[Nếu Tâm không sáng, Tâm chỉ nghĩ đến mình, đến đảng phái mình thì những biện pháp đưa ra sẽ không hoàn chỉnh mà chỉ là để phục vụ quyền lợi của mình, của đảng phái mình mà hình thức sinh hoạt đảng tranh ở Mỹ là thí dụ điển hình.]

Mục đích và ý nghĩa tích cực của tất cả công năng với hiệu suất chính trị là giáo dưỡng toàn diện, triệt để và hướng thượng. Cho nên khởi điểm và chung điểm của chính trị là giáo dưỡng.

Chính trị là một phương trình thức (hình học) của 2 nhân tố kinh tế và ý thức trên số học, xã hội, vũ lực với cách mạng là kết quả của chính trị trước bánh xe lịch sử khi chính trị không cởi được nút kết (bế tắc của xã hội) thì cách mạng vũ lực sẽ xảy ra.

III. Căn tính và nguyên lý thực tiễn của chính trị ở các quy luật bản chất

Chính trị là Nhân Bản gây dựng nên cốt lõi của loài người sinh hoạt suốt chiều dài lịch sử. Nhân tính là nền tảng của xã hội, kinh tế với nguyên lý chính trị. Nhân đạo, Nhân sinh, Nhân cách là các tiêu chuẩn của lý tưởng đưa đến thực tiễn chính trị.

Chính trị là Giáo Dưỡng giúp loài người tiến lên làm lịch sử.

Chính trị là Thời Vụ thực hiện lý tưởng theo thời gian và không gian thích hợp với điều kiện sẵn có.

Chính trị là Dân Bản để tiến hóa hình thành các phạm trù Dân Tộc, Dân Đạo, Dân Sinh, Dân Văn, Dân Trị với Dân Vực qua điều kiện của mỗi thời đại.

IV. Chính trị không có kỹ thuật chỉ có Tâm thuật của Duy Dân biện chứng pháp

Duy Dân biện chứng pháp giúp sự vận hành trong xã hội, là nét đặc thù của tinh thần chủ động hay bị động các nguyên lý, cách thức để sâu suốt bất luận các biến cố chính trị xảy ra.

Cho nên chính trị chỉ có Tâm Thuật mà không có kỹ thuật hay quyền thuật.

Cho nên chính trị là vận hành pháp trị trên nền tảng nhân sự.

Cho nên chính trị là quan sát khí tượng, dân phong, âm nhạc, sinh hoạt thường ngày từ nhỏ đến lớn, mơ hồ, vô hình hay hữu hình để tự giáo dục.

Cho nên thi hành chính trị là tìm được người hiền hay không, thuận sinh mệnh hay không, thuận xã hội hay không, thuận với lịch sử hay không mà thôi.

Cho nên chính trị cũng là vận mệnh cái bị động, hay chủ động được các quy luật tiến hóa mà cơ năng và nội dung là điều kiện quyết định. Chính trị cũng là sự tranh đấu của nhân vị với vận mệnh.

Cho nên chính trị chỉ là cơ hội, là lịch sử, là chí lương tri, là lý tưởng đạo.

V. Hiệu suất chính trị tính theo trình độ của Sinh mệnh xã hội và lịch sử

Công năng của chính trị là hiệu suất của sinh lý, tâm lý, văn hóa trên biểu đồ lịch sử.

Sự vững mạnh của dân chủ và sinh tồn chỉ là hiệu suất sinh mệnh trong chính trị.

Sự hợp lý của xã hội và hòa bình của quốc gia là hiệu suất xã hội trong chính trị.

Sự tiến bộ của văn hóa, sáng tạo khoa học là hiệu suất của lịch sử trong chính trị.

VI. Lý tưởng của chính trị là lý tưởng Người trong Duy Dân biện chứng

Các thời đại, dân tộc và các nền văn minh chỉ có một mục đích là chạy theo hình bóng lý tưởng với phạm trù Con Người trên một khái niệm trọn vẹn, mỹ mãn. Đó cũng là hình ảnh mà các tôn giáo vạch ra để lôi kéo loài người.

Các thời đại, dân tộc và các nền văn minh đều cố gắng đạt tới một xã hội lý tưởng với phạm trù xã hội trên một khái niệm Người (như trên) tận lực để thỏa mãn nhu cầu về phần mình.

Các thời đại, dân tộc và các nền văn minh đều chạy theo lý tưởng với phạm trù Lịch sử trong sáng, tự chủ biết sung sướng và mỹ mãn.

NGUYÊN LÝ CỦA CƠ NĂNG HIẾN PHÁP về TINH THẦN LÀM VIỆC CỦA QUỐC DÂN

Xem Cơ Năng Hiến Pháp Một Góc Nhìn (sẽ đăng trong tháng 11 & 12/2021).

Trần Công Lân

Tháng 2 năm 2021

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s