Những hành tác triệt diệt của các người (P1)

Ghi Chú NL: Đây là chủ đề V trong sách Triệt Luận của giáo sư Lê Hữu Khóa. Để tiện dịp cho độc giả theo dõi trong phạm vi thời gian giới hạn, chúng tôi xin chia ra nhiều phần. Xin đưa chuột vào phần tựa đề bài để đọc từng phần.

Hành tác triệt diệt là bạo sách của bạo quyền độc đảng triệt hủy đi nhân tính Việt được chế tác ra từ nhân tâm Việt, nhân từ Việt, nhân tính Việt; là tà sách của tà quyền độc đảng triệt xóa đi nhân bản Việt đã được chế tác ra từ nhân lý Việt, nhân tri Việt, nhân trí Việt; là ma sách của ma quyền độc đảng với ma tri triệt hạ nhân phẩm Việt đã được hình thành từ nhân vị Việt, nhân đạo Việt, nhân nghĩa Việt.

Những hành tác triệt diệt của các người là phần V của Triệt luận đào sâu hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) để vừa đi tìm văn minh của dân chủ, và văn hiến của nhân quyền qua các định chế tiến bộ của nhân loại hiện này. Từ đó, trở về lại thảm họa của Việt tộc hiện nay đang bị độc đảng toàn trị giam cầm nhân kiếp của mình. Nơi mà ĐCSVN độc tài nhưng bất tài, vì những lãnh đạo vô học tạo nên những chính sách vô hậu cho cả một giống nòi Việt, ngày ngày bị lao lý hóa trong công an trị, tham nhũng trị, tham tiền trị…

Thức luận: văn minh dân chủ, văn hiến nhân quyền

Định đề của hệ thức, trên đó ta nhận ra những định luận: Kiến thức có từ kinh nghiệm hoặc từ học tập, có từ ngoại cảnh hay có từ tư duy biết lý luận, có từ tập luyện tới tinh luyện, có từ môi trường tới sự xuất hiện của tha nhân… Tri thức, là sự hiểu biết từ dữ kiện tới chứng từ, từ kinh nghiệm học tập tới trải nghiệm với xã hội như khả năng biết xếp đặt theo thứ tự để tổ chức một trật tự cho kiến thức, mà từ xếp đặt tới xếp loại, tri thức còn là khả năng trật tự hóa những ưu tiên trước các thử thách của cuộc sống…

Trí thức, không phải là một giai tầng xã hội của những kẻ có bằng cấp cao, có hiểu biết rộng, mà là sung lực của tri thức biết nhận ra sự thật bằng khách quan của khoa học, thấu được nỗi khổ niềm đau của nhân sinh bằng đạo đức trọng sự thực, quý chân lý để thăng hoa lẽ phải. Ý thức, mang lực tổng hợp của kiến thức lại có lực tổng kết của tri thức, lại có sự hiện diện của đạo lý biết nhận ra hay, đẹp, tốt, lành, lại được luân lý của bổn phận và trước nhiệm giúp nhận ra lẽ phải trước khi quyết định và hành động.

Nhận thức, là quá trình đưa kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức vào quỹ đạo của đạo lý, luân lý, đạo đức để luôn có tỉnh táo mà nhận ra sự thật, luôn có sáng suốt mà nhận ra lẽ phải, tự đó có một nhân sinh quan, một thế giới quan, một vũ trụ quan biết tôn trọng sự thật và lẽ phải. Tỉnh thức, là khả năng nhận ra những sai lầm của tha nhân, mà cũng là kỹ năng nhận ra những lầm đường lạc lối của chính mình, để phải vận dụng lại kiến thức, tri thức, trí thức, để tận dụng trọn vẹn hơn ý thức, nhận thức để khỏi bị rơi vào lỗi, tội bị kết án bởi đạo lý, luật pháp đại diện cho lẽ phải và sự thật.

Chính hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn để phân tích và giải thích sự ra đời: hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri); hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin); hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái); hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo); hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp); hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa).

Qua điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, tiểu luận này phân tích để phân định, giải thích để giải luận là tất cả các hệ trên đã, đang, sẽ bị truy, diệt, khử, trừ bằng hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của ĐCSVN, chính là cha sinh mẹ đẻ của: hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền); hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương); hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh); hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

Điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu với các phương pháp của khoa học xã hội và nhân văn, chỉ là một công đoạn của phân tích và giải thích các hiện tượng, các dữ kiện, các chứng từ… Công đoạn tiếp theo chính là mức độ của học thuật mà cũng là trình độ của hệ thức, cụ thể là vận dụng rồi tận dụng hệ luận (lý luận, lập luận, giải luận, diễn luận) để được đi sâu vào các hệ lụy mà cũng là hệ luận để nhận ra:

Lý luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để ra đường đi nẻo về của hệ độc (độc đảng, độc quyền, độc tài, độc trị, độc tôn) của ĐCSVN, chính là cha sinh mẹ đẻ của hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền); hệ bất (bất tài, bất lực, bất tín, bất lương); hệ gian (gian dối, gian trá, gian xảo, gian manh); hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm).

Lập luận trên hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức, tỉnh thức) là gốc, rễ, cội, nguồn của hệ lương (lương thiện, lương tâm, lương tri); hệ tự (tự do, tự trọng, tự chủ, tự tin); hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái); hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng tạo); hệ chuyên (chuyên cần, chuyên môn, chuyên nghiệp); hệ tinh (tinh lực, tinh thông, tinh hoa) để thấy lối của Việt tộc qua các phạm trù của cộng hòa (tự do, công bằng, bác ái) trong không gian của đa nguyên có văn minh của dân chủ, có văn hiến của nhân quyền.

Giải luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu để nhận ra những thảm họa trên nhân kiếp của Việt tộc, tới từ bạo quyền độc đảng liên minh với tà quyền để tham quyền; với ma quyền để lạm quyền, với quỷ quyền để lộng quyền. Đào càng sâu phân tích để được xới thật rộng giải thích: bạo quyền độc đảng sẽ thay hình đổi xác để thành cực quyền, một loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng khử trừ mọi đối trọng, đối kháng khác với nó. Bạo quyền độc đảng sẽ thay thân đổi dạng để thành cuồng quyền, loại quyền lực tuyệt đối sẵn sàng truy diệt mọi đối thoại, đối luận khác với nó.

Diễn luận trên các kết quả của điền dã, điều tra, khảo sát, nghiên cứu trong học thuật về Việt Nam hiện nay về vấn đề quyền lực thì không thể bỏ qua các chỉ báo về: tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền cực quyền, cuồng quyền. Thảm kịch trên số phận của Việt tộc sẽ là bi nạn của giống nòi Việt, của các thế hệ mai hậu khi Việt tộc đã để bị tà quyền, ma quyền, quỷ quyền, tham quyền, lạm quyền, lộng quyền, cực quyền, cuồng quyền, cướp đi hệ nhân của mình, nơi mà nhân tính, nhân lý bị mất nhân tri, nhân trí, bị lạc nhân bản, nhân văn, bị xa nhân nghĩa, nhân đạo, bị xóa nhân tâm, nhân từ, tựu trung là bị tước đi nhân quyền!

Vô luận: lãnh đạo vô học, chính sách vô hậu

Vô học-vô hậu từ vốn vô học tới tuyên truyền trị, ngu dân trịvô học trị là một hệ thống độc đảng để toàn trị mà ĐCSVN áp đặt từ khi nó cướp được chính quyền cho tới nay là độc quyền trong toàn trị lên xã hội, lên dân tộc mang cấu trúc của vô học-vô hậu. Tuyên truyền ngu dân bằng đổi trắng thay đen, che dấu sự thực để trưng bày ngược lại cái phản sự thật; thi hành một chế độ công an trị mà tuyên truyền là chế độ của dân, do dân, vì dân.

Nếu nó là một hệ thống tuyên truyền trị để cai trị thì ta phải gọi nó là tuyên truyền trị. Tuyên truyền ngu dân bằng ăn không nói có, che dấu một bản chất của một chế độ độc đảng để độc quyền trong đặc quyền, đặc ân, đặc lợi của tầng lớp lãnh đạo, cán bộ, đảng viên, rất thiểu số, bọn này ăn trên ngồi trốc, cỡi đầu cỡi cổ cả một dân tộc khoảng 100 triệu người, mà ngày ngày ra rả chúng là đầy tớ của nhân dân. Nếu nó là một hệ thống vận dụng ngu dân để quản trị thì ta phải gọi nó là ngu dân trị. Tuyên truyền ngu dân bằng cướp ngày là quan, để tổ chức cướp đất của dân bằng cách đưa vào hiến pháp đã bị ĐCSVN “hiếp định” bằng điều: “đất đai là sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước quản lý”, để cướp đất của dân, biến dân lành một sớm một chiều thành dân oan. Nếu nó là một hệ thống độc đảng trong vô hiến, vô pháp, vô công với bản chất vô tri, vô thức, vô minh thì ta phải gọi nó là vô học trị.

Khi bạo quyền lãnh đạo, chia chát cùng tà quyền tham quan, cả hai có liên minh với ma quyền tham đất, vì tất cả bọn chúng đều tham tiền, thì hệ lụy của tuyên truyền không còn là chuyện ăn gian nói dối, mà là chuyện tổ chức để cướp của hại người, theo nghĩa sâu xa nhất mà thí dụ cụ thể là bứng dân lành ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để một sớm một chiều thành dân oan, phải màn trời chiếu đất, phải đầu đường xó chợ. Tuyên truyền ngu dân như quá trình độc quyền sinh sát của một độc đảng đứng và đạp trên tất cả số phận của một dân tộc, tận dụng tuyên truyền ngu dân như một quá trình giáo dục ngu dân.

Đây là quá trình độc quyền hóa từ quyền lực tới quyền lợi của một độc đảng, vừa độc tôn vừa độc trị để truy diệt từ khả năng phát triển kinh tế tới tiềm năng làm chủ tri thức nhân bản để có cuộc sống văn minh. Độc đảng này luôn tìm mọi cách hủy diệt đa nguyên của đa đảng biết tận dụng đa trí, đa tài, đa lực, đa năng, đa hiệu… Độc đảng toàn trị mang ma trận của tư lợi hóa qua đặc quyền, đặc lợi, đặc ân, đặc sủng của một giai tầng thống trị, chỉ là một thiểu số gần 5 triệu đảng viên là thành phần nòng cốt tự lãnh đạo tới cán bộ để bòn rút tài nguyên đất nước, tiền của đồng bào, tiền tài của một dân tộc khoảng 100 triệu dân.

Từ ý đồ độc quyền làm nên con tính độc lợi chế tác ra quá trình tư lợi, tiểu luận đề nghị giải luận quá trình này vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả tới từ một quá trình chưa bao giờ được phân giải tới nơi tới chốn, đó là quá trình vô học-vô hậu. Vốn vô học của một tập đoàn lãnh đạo từ ngày thành lập ĐCSVN 1930, tới ngày cướp được chính quyền 1945, qua giai đoạn 1954 sử dụng chuyên chính vô sản với bản chất của chuyên chính vô học, bất chấp thảm họa nội chiến của hàng triệu triệu sinh linh trong huynh đệ tương tàn, cho tới ngày cướp trọn được chính quyền trên cả nước 1975. Chiến thắng tới từ vốn vô học của loài cố đấm ăn xôi, thuộc loại vua thua thằng liều, được sự hỗ trợ của hai cường quốc chuyên chính vô sản là Liên Sô và Trung Cộng, có cùng bản chất chuyên chính vô học-vô hậu của loại trộm, cắp, cướp, giật bằng con tính bất nhân mạnh được yếu thua, với con toán thất đức sự thật chỉ mặt qua nòng súng, kiểu Mao Trạch Đông.

Vô học hóa cả một dân tộc dựa trên vốn vô học của lãnh đạo từ tuyên truyền ngu dân tới tới giáo dục ngu dân; vô học hóa từ định chế làm nên luật pháp tới cơ chế trong sự vận hành của một xã hội. Nơi mà quần chúng liêm chính, dân chúng liêm khiết, nhân sĩ liêm minh hoàn toàn không có chỗ đứng ghế ngồi, nơi mà hiền tài là nguyên khí của quốc gia đã bị đào tận gốc bới tận rễ, để nhường chỗ cho hằng số vô học-vô hậu: quan hệ-tiền tệ-hậu duệ-đồ đệ, hằng số này có chủ thầu là vô minh, có đầu nậu là vô tri, có đầu cơ là vô trí để truy, hủy, diệt, triệt trí tuệ.  Đây chính là bi kịch của đất nước hiện nay, là thảm kịch của Việt tộc, đã và đang bị trùm phủ bởi hằng số vô học-vô hậu, từ gần một thế kỷ (1930-2020).

Phân tích rõ vai trò và chức năng của trí tuệ; chính là hiện thân của có họccó hậu khi trí tuệ được trợ lực bởi lý trí biết giải thích để nhận ra sự thật; vì trí tuệ được trợ duyên bởi tuệ giác biết giải luận để nhận ra lẽ phải. Câu chuyện có học-có hậu chính là con đường sống của Việt tộc, đây là chân trời của tất cả thế hệ tương lai. Câu chuyện của vô luận, đề nghị một quá trình phân giải để thấy-cho-thấu hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô học được toan tính bởi hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị). Nó mang khuyết tật của vốn vô học, lấy bất nhân thất đức của ăn tươi nuốt sống mà nuốt trọn cái ăn hiền ở lành biết làm nên cái ăn ở có hậu trong giáo lý Việt.

Hậu quả cùng hệ quả qua các hệ lụy của hằng số vô hậu đã và đang ngăn chặn con đường phát triển kinh tế vì một xã hội tiến bộ, biết thăng hoa một dân tộc trong một đời sống văn minh, đã bị hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền) của tập đoàn lãnh đạo độc đảng toàn trị, mà bản chất là một tập đoàn tội phạm đã bứng đi cội đạo lý Việt ăn ở có nhân mười phần không khó; đã bị bứt đi rễ giáo lý Việt đường mòn nhân nghĩa chẳng mòn. Nhập đề để nhập nội, cụ thể là nhập trí của lý trí có nhân bản, là nhập tri có nhân văn, để thấy cho thấu hằng số vô học-vô hậu mà ĐCSVN áp đặt lên nhân kiếp của Việt tộc chỉ là một hằng số: tạm thời! Và hằng số này chấm dứt sớm hay muộn là tùy vào  trí thức của Việt tộc biết hay không biết vận dụng văn minh của dân chủ, biết tận dụng đa nguyên làm nên đa trí, đa tài, đa lực, đa dũng, đa năng, đa hiệu, vì văn hiến của nhân quyền để biết tự bảo vệ nhân vị lẫn nhân phẩm của mình.

Nên câu chuyện cốt lõi vẫn là có-học-để-có-hậu, câu chuyện này hoàn toàn không hề là câu chuyện về bằng cấp, nơi mà học vị lẫn học hàm hiện nay đều bị giả hóa ở những mức độ khác nhau trong hệ thống giáo dục của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc tôn, độc trị) có anh em sinh đôi với hệ tham (tham quyền, tham quan, tham ô, tham nhũng, tham tiền). Hệ thống giáo dục này đã và đang bị quá trình mua bằng bán cấp, giả hóa rồi tha hóa về mọi mặt, từ giáo lý, giáo luận, giáo dục tới giáo khoa, giáo trình, giáo án. Mua bằng bán cấp trong giáo dục để mua chức bán quyền ngoài xã hội từ gốc tới ngọn, cái giả đã thay thế cái thật với trường giả-học giả-thi giả-điểm giả-bằng giả.

Nên câu chuyện gốc rễ vẫn là có-học-để-có-hậu, không hề câu chuyện về bằng cấp có thể bị giả, nơi mà học vị có thể bị gian, học hàm có thể bị dối, ngược lại có-học-để-có-hậu là câu chuyện: học thật của ăn ở có nhân mười phần không khó, học lực của đường mòn nhân nghĩa chằng mòn, học thuật của sống lâu mới biết lòng người có nhân. Nhập đề để nhập nội, với rào trước đón sau lấy chữ nhân làm gốc, rồi rào dậu tát ao lấy chữ học (học thật bằng học lực để hiểu học thuật) làm chủ lực để đối kháng, để kình chống, để phản kháng, để chống đối từ hậu quả tới hệ quả với tất cả hệ lụy tới từ vô học-vô hậu!

Như vậy, độc giả đừng đọc và đừng hiểu vô học-vô hậu là không có bằng cấp, trống học vị, rỗng học hàm; mà vô học-vô hậu đây là: vô nhân làm nên vô tri, vô tri làm nên vô trí, vô trí làm nên vô giác, vô giác làm nên vô cảm, vô cảm làm nên vô tâm, mà tất cả có cùng cha sinh mẹ đẻ là: bất nhân thất đức. Nếu muốn tránh hiểu lầm mô thức vô học-vô hậu của tiểu luận vô luận này, thì độc giả hãy đọc bằng nhân tri của nhân trí, bằng nhân lý của nhân tính, bằng nhân bản của nhân văn, bằng nhân tâm của nhân từ, bằng nhân vị của nhân quyền, và chúng ta cùng nhau bảo vệ nhân phẩm của chính mình trước bạo quyền của ngu dân trị, tà quyền của tuyên truyền trị, ma quyền của vô học trị. Lập luận phản biện chống vô học-vô hậu có các phương pháp cụ thể để lội ngược dòng mọi ý đồ của tuyên truyền ngu dân do độc đảng toàn trị dùng tuyên huấn qua tuyên giáo, đã và đang gây ra nhiều hậu quả với bao hệ lụy trùm phủ lên nhân kiếp Việt tộc, lên số kiếp của nhiều thế hệ mai sau:

*Phương pháp luận của hiện tượng học trực quan của mắt thấy tai nghe, từ thượng nguồn của các chính sách của ĐCSVN đề ra cho tới hiện tượng học trực diện trước các hậu quả, các hệ lụy mà Việt tộc đang phải gánh chịu hiện nay. Mà ĐCSVN lãnh đạo tức là nó chính là chủ mưu trong quá trình vô học hóa toàn xã hội, nó cũng là đầu nậu một ý thức hệ dựa vào tuyên truyền trị, nó là đầu cơ bằng ngụy tạo qua các chính sách lấy ngu dân trị vừa làm phương tiện, vừa là cứu cánh. Hậu quả giờ đây đã rõ, từ một quê hương gấm vóc giờ đã thành một đất nước cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm từ nguồn nước tới không khí loại hàng đầu trên thế giới; từ một dân tộc thông minh bây giờ đã thành lao nô cho các nước láng giềng, cho Tàu tặc không những cướp đất, biển, đảo, mà còn thao túng kinh tế Việt, giăng bẫy thương mại Việt và đang bóc lột nhân công Việt ngay trên đất Việt…

*Lý thuyết luận của hiện tượng học lý trí, đề nghị sử dụng lý thuyết để phê bình lý thuyết, vận dụng chủ thuyết để phê bình chủ thuyết, tận dụng luận thuyết để phê bình luận thuyết, ở đây không có chỗ đứng ghế ngồi cho hệ độc (độc quyền, độc trị, độc tài, độc tôn, độc đảng) kiểu cả vú lấp miệng em. Không gian của lý thuyết luận này có gốc, rễ, cội, nguồn của hệ đa của đa tài, đa dũng, đa năng, đa hiệu làm nên từ đa thức, đa tri, đa trí; có chỗ dựa là đa nguyên. Chính đây mới là không gian của phương trình sự thật-chân lý: so ra mới biết ngắn dài. Nơi mà phản diện của hệ vô (vô minh, vô tri, vô giác, vô cảm, vô tâm) chính là hệ thức (kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức, tâm thức) có trí lực của hệ thông (thông minh, thông thạo, thông thái), có luận lực của hệ sáng (sáng kiến, sáng chế, sáng lập, sáng tạo).

*Khoa học luận của hiện tượng học nhận thức, biết phân tích để giải thích các hậu quả, hậu nạn tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu. Cấu trúc của khoa học luận này tuân thủ bốn công đoạn của khoa học xã hội thực nghiệm qua nghiên cứu, điều tra, khảo sát, điền dã thực địa, nơi mà dữ kiện mang theo chứng từ, chứng tích, chứng nhân để lập lại sự thật, để dựng lại chân lý: Khoa học thuật sử tính, là công đoạn một, có quá trình sử luận, nơi mà các sự cốsự kiện mà người nghiên cứu định vị được không gian và thời gian.  Nếu định vị được địa điểm và thời điểm của sử kiện thì sẽ định vị được kết quả, hậu quả, hiệu quả của sự kiện đã là sự cố hay đã là biến cố tác động lên sinh hoạt xã hội, quan hệ xã hội, đời sống xã hội, tổ chức xã hội, tới từ các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu.

khoa học thuật bối cảnh là công đoạn hai, để phân tích thực cảnh của một xã hội nơi mà sự cố đã thành biến cố, để phân loại các hoàn cảnh, tại đây hoạt cảnh xã hội bị đóng khung bởi các chính sách tuyên truyền ngu dân mang thực chất vô học-vô hậu; từ đó phân giải toàn cảnh các chính sách của tuyên truyền trị, ngu dân trị mang thực chất vô học trị. Các chính sách tuyên truyền ngu dân của độc đảng toàn trị được “chống lưng” bởi một hệ thống công an trị, và “sân sau” của các chính sách này chính là tham nhũng trị; được bảo kê kiểu “ô dù” giữa các bè, đám, nhóm, phái… với mưu hèn kế bẩn, mà tất cả đều bị chi phối bởi tham tiền trị.

khoa học so sánh, là công đoạn ba, nơi mà mọi dữ kiện trong cùng một bối cảnh, mọi chứng từ trong cùng một hoàn cảnh, mọi cá nhân trong cùng một hoạt cảnh, đều có thể so sánh được, ở cấp độ khác nhau từ địa phương tới trung ương, ở mức độ khác nhau từ quốc gia tới quốc tế, ở cường độ khác nhau từ kiến thức tới ý thức, ở trình độ khác nhau từ tri thức tới nhận thức… Cụ thể là đưa ra ánh sáng các chính sách tuyên truyền ngu dân gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu, rồi vận dụng so sánh để đo đạc cường độ, mật độ, mức độ của các chính sách tuyên truyền ngu dân này, để hiểu bản chất của nó qua chính trình độ của nó.

Có khoa học tổng quan, là công đoạn bốn, với đồ hình được phân định và phân giải vừa hợp lý, vừa chỉnh lý của khoa học sử tính, khoa học bối cảnh, khoa học so sánh, để có nhận định tổng thể, từ đây hình thành sự phân loại các thành phần bằng các khuynh hướng chung, các hành vi đa số, các hành tác thiểu số, các hành động đơn lẻ của bè, đám, đảng, nhóm, phái, qua quan hệ giữa quyền lực và quyền lợi, trong không gian của tuyên truyền trị, ngu dân trị, vô học trị gây nên hậu quả và hậu nạn vô học-vô hậu.

Những hành tác triệt diệt của các người (P2)

Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học * Tiến sĩ quốc gia trường gia Cao học khoa học xã hội Paris * Tiến sĩ xã hội học Đại học Nice-Sophia Antipolis * Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa  Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s