Triệt hiện sử Việt (P2)

Các người đã triệt: Hùng khí Việt quốc Ngô Quyền
Với phản ứng hèn với giặc đã trở thành phản xạ cúi đầu-khoanh tay-khom lưng-quỳ gối trước Tàu tặc, chính các người đang giết hùng khí Việt quốc Ngô Quyền đã sẵn có trong mỗi tâm hồn Việt bất khuất. Nhiều người trong các người lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay có biết rõ về sự nghiệp của Ngô Quyền không?
Muôn dân khâm phục và quý trọng Ngài qua ba biểu tượng thật tiêu biểu cho tinh thần bất khuất Việt: Ngài chấm dứt chớp nhoáng một sớm một chiều hàng ngàn năm đô hộ của Tầu tặc phương Bắc. Ngài xử lý gọn trong hai mặt trận “thù trong, giặc ngoài”, loại tên bán nước Kiều Công Tiễn, tống giặc Nam Hán ra khỏi bờ cỏi Việt. Ngài cùng Kiều Công Hãn, Dương Thục Phi, Phạm Đức Dũng, Nguyễn Tất Tố… là những chiến lược gia xuất sắc đầu tiên đã phạm trù hóa chiến thuật thủy triều mà chiến tích trên sông Bạch Đằng đã thành mô hình quân sự cho thông minh Việt, được sử dụng nhiều lần bởi các minh tướng sau này.
Chấm dứt ngàn năm đô hộ Bắc thuộc phải có bản lĩnh làm chuyện đại cuộc, biết thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc, và Ngài đã làm được. Xử lý trọn bọn buôn dân, bán nước loại Kiều Công Tiễn, xóa mối hận phản chúa cho chủ tướng Dương Đình Nghệ, giải tỏa luôn nỗi căm tức của nhân dân thời đó là trừ gọn bọn nội phản để gây lại niềm tin cho Việt tộc là một làm việc rất lớn. Trong điều binh, khiển tướng, ngài biết nghe, biết tiếp thu các sáng kiến tài, các sáng tạo hay của Kiều Công Hãn, Dương Thục Phi, Phạm Đức Dũng, Nguyễn Tất Tố…
Ngài là gương của tất cả những ai muốn lãnh đạo đất nước Việt hiện nay, trước họa Tàu tặc, trước họa bán nước của bọn “sâu dân, mọt nước”. Vậy mà tình hình hiện nay, Tầu tặc cướp biển, cướp đảo… trên một đất nước có cả ngàn vị có chức tướng, mà không vị tướng nào có một tuyên bố liêm sỉ về toàn vẹn lãnh thổ của Việt tộc, không vị tướng nào có sáng kiến về các phương cách ngăn chặn giặc trên biển Đông, không vị tướng nào có sáng tạo về chiến thuật quân sự trong tình hình mới.
Riêng tướng Trương Giang Long chỉ mới phân tích về tham vọng bá quyền Trung Quốc, đã bị bịp miệng, đã bị trừng phạt ngay. Làm tướng mà không lo bảo vệ tổ quốc thì làm tướng cho ai? Họ làm tướng cho riêng họ hay vì dân tộc? Sơn hà đang nguy biến, tại sao Bộ Quốc Phòng cùng các tướng lĩnh suốt ngày đi buôn bất động sản, lòn lách trong các hệ thống ngân hàng… với bao mạng lưới tham nhũng qua hối lộ do chính các tướng chủ trì, giờ mới biết là các tướng công an lại tổ chức đánh bạc trên mạng liên quốc gia để thâu tiền kiểu đầu nậu! Họ là tướng hay họ đang vô tình “nối giáo” cho giặc? Trong chính sử, Việt tộc chỉ thấy và thờ tướng tài, tướng giỏi, tướng hay, nhân dân thấy “lợm giọng” trước các tướng hèn, vì các tướng hèn chỉ có chỗ trong tà sử, ma sử, tục sử, họ không có đứng trong Việt sử.

Các người đã triệt: Nữ lực Hai Bà Trưng
Thảm bại lớn nhất của các người từ lãnh tụ thuở các người lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN là cách đối xử thiếu liêm sỉ, vắng tôn trọng, trống nhân tâm với phụ nữ Việt, đừng trông mong gì trong chế độ độc đảng toàn trị của các người sẽ xuất hiện Nữ lực Hai Bà Trưng. Hai Bà đánh quân Đông Hán, mà người đời đã đúc kết qua câu nợ nước-thù nhà, khi giặc ngoại xâm đã giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nhưng khí thế của hai Bà tạo được trong kháng chiến thuở đó còn có mang nội lực của mẫu quyền còn ảnh hưởng trong văn hóa Việt chăng? Trong bối cảnh sơn hà nguy biến, có khi nội lực này vượt lên áp lực của phụ quyền. Bằng chứng là chung quanh hai Bà có các nữ tướng: Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Đàng… ngay từ trong tổ chức quân lực cho tới khí thế khi đối diện với địch trên chiến trường, hai Bà đã đóng trọn vẹn vai: vua! Hai Bà để lại một bài học vô cùng quý báu mà con cháu thời nay luôn phải nhớ là: quyết tâm tự chủ của Việt tộc. Các nhà lãnh đạo độc đảng hiện nay, dù còn độc tài để độc quyền: đừng quên bài học này!
Sử Việt còn ghi sự tàn ác của thái thú Tô Định, nó độc ác nhưng là thằng hèn, đã bị hai Bà đánh cho bỏ chạy, sau đó bạo triều Đông Hán gởi Mã Viện tới và khi thắng được hai Bà, nó đã để lại chiến tích (hay giả sử) về cột đồng Mã Viện, xem đất Việt là đất Tầu, cột đồng sau đó đã không còn dấu tích. Đây cũng là chuyện dễ hiểu: không bao giờ Việt tộc để cột đồng đứng trên quê hương Việt. Những ai cứ thắc mắc: giờ thì cột đồng đó ở đâu? Thắc mắc thì cứ tìm câu trả lời, trong đó có giả thuyết là dân Việt đã nấu cột đồng chảy ra để làm thau đồng, để lau nhà rồi! Đừng lẩm cẩm mà để giặc vào đất nước này lần nữa, chúng không những đã cướp biển, cướp đảo, mà đã đến đất nước này qua đường du lịch, để oang oang trong bảo tàng, trong chùa Linh Ứng tại Đà Nẵng, và nhiều nơi khác, khi bọn hướng dẫn viên du lịch gốc Tầu nói bằng tiếng Trung là đất Việt xưa là đất của chúng! Chúng ta đừng ngần ngại tống bọn hướng dẫn viên du lịch này ra khỏi đất nước ta! Thời hai Bà ra quân kháng chiến, nhân dân ủng hộ, nhân sĩ tụ nghĩa chung quanh hai Bà, đó là vì hai Bà vừa có trí tuệ, vừa có dũng khí giữ nước-cứu dân, để lại những trang sử -trong sáng và trong sạch- về tâm hồn Việt: quyết tâm độc lập của Việt tộc. Hậu thế này sẽ là hậu duệ đạo lý của hai Bà: không để mất quê hương!

Các người đã triệt: Oanh liệt Việt Bà Triệu
Sự lụn bại lớn nhất của các người từ lãnh tụ thuở các người lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN thì đừng chờ mong gì trong chế độ độc đảng toàn trị của các người không hề có một chính sách gì để phụ nữ Việt được thăng hoa trong sinh hoạt xã hội, đời sống xã hội, quan hệ xã hội, thì sẽ không sao xuất hiện oanh liệt Việt Bà Triệu.
Bà khởi nghĩa ra quân cứu nguy đất nước trong bối cảnh của một thời kỳ bi thảm của dân tộc. Bọn giặc nhà Ngô vô cùng tàn bạo với dân Việt, chúng mang sự tàn độc của cái hỗn chiến cùng thời của Tam Quốc tới đất nước Việt ta. Chúng trùm phủ không khí tàn ác nhà Hậu Hán để đô hộ nước Việt, với bọn tham quan bòn rút tận xương tủy dân ta, trong đó phải kể tội tên thứ sử Lữ Đại, tham ô đi cùng với độc ác. Người thời đó truyền tục: cùng với sắc đẹp Triệu Thị Trinh, can đảm và mưu trí, và để khai minh cho những ai thắc mắc, tại sao bà không lấy chồng, lập gia đình, yên thân với nữ phận, Bà trả lời: “Tôi muốn cỡi gió mạnh, đạp sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, tháo ách nô lệ cho nhân dân”. Đây là tầm vóc nhân sinh quan của bà, đây cũng là một sung lực của phụ nữ Việt mà các bọn giặc đến cướp ta thường rất vô minh về ẩn số nữ Việt này.
Dáng mạo oanh liệt trên chiến trận, Bà cỡi voi, ra trận với mãnh lực, mỗi lần binh lính giặc Ngô phải đi đối đầu với Bà, chúng rất sợ. Từ rừng Bồ Điền, nơi Bà tổ chức kháng chiến, tới núi Tùng, Thanh Hóa, Bà đã có hơn 30 trận ác chiến với giặc Ngô. Chính giặc Ngô đặt tên cho Bà là Nhụy Kiều Tướng Quân, công nhận cái thanh của Bà. Ai cũng biết nhân cách cao đẹp của Bà, chính tướng giặc là Lục Dận đã chọn cái tục khi bắt lính quân Ngô trần truồng ra trận để Bà phải ngượng mà lui quân. Tàu tục, Triệu thanh là kinh nghiệm mà ta phải nhớ mỗi lần ta đối đầu với Tầu tặc, tổ tiên ta dặn con cháu phải luôn giữ cái thanh, vì nó tinh khiết, vì nó trong trắng, cho dù trước các câu hỏi tục, chúng ta phải luôn chọn: “đố tục, giảng thanh”.
Vì vậy, trong các trận chiến sắp tới với Tầu tặc, từ ngoại giao tới quân sự, nếu chúng tục, thì ta đừng lùi mà mắc mưu chúng, ta cứ tiến lên để dẹp cho sạch cái tục, vì cái tục dẫn đường đưa lối cho cái xấu, thô, tồi, dở, để sau đó là mở cửa cho cái thâm, độc, ác, hiểm nhập vào nhân tính Việt. Chúng ta quý trọng văn minh Trung Quốc, chúng ta còn xếp Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử vào bậc thầy, nhưng chúng ta đừng để cái Tầu tục có mặt trên đất nước Việt! Thẳng thắn, không dung kẻ xấu, bà đã xử chính đáng bà chị dâu đã phản bội và tố cáo chồng: Triệu Quốc Đạt, là anh của Bà. Bao lần tướng Ngô tìm mọi cách để chiêu dụ Bà, nhưng chúng luôn thất bại vì khí phách của Bà. Ngược lại, trong tổ chức đội ngũ của Bà, có những kẻ đã để địch mua chuộc, làm tan rã hàng ngũ trước âm mưu của địch. Bài học tổ chức chặt chẽ nội bộ luôn là bài học quý mỗi lần chúng ta phải đối diện với Tầu tặc xăm lăng. Bài học quý hơn cả mà Bà để lại cho các thế hệ Việt hiện nay chính là hùng lực của uy tín tự thân, lấy chính sự tự chủ để làm sức mạnh, và tướng Trần Quang Khải đã tiếp nhận được bài học này của Bà: “Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh”.
Xin nhắc lại là từ lãnh tụ thuở các người lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN, các người không hề làm rạng ngời sử xanh, sử mà các người làm nên chỉ là sử của xương máu và nước mắt!

Các người đã triệt: Quan âm chính sự Nguyên phi Ỷ Lan
Từ lãnh tụ thuở các người thời lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN, các người không kể vì không được học, các người không làm chính sách vì các người không thấy và không thấu mô thức Quan âm chính sự Nguyên phi Ỷ Lan. Từ một cô gái hái dâu, nuôi tằm, đã trở thành chính khách biết kinh bang tế thế, vì con người thật của Bà là “thức khuya dậy sớm” nghèo nhưng liêm sỉ, là “một nắng hai sương” nghèo nhưng chăm chỉ, vì có lương tâm với gia đình. Kinh bang tế thế, là chân tài của Bà, câu chuyện “tiến cung” với niềm tin, cùng lòng quý yêu của vua Lý Thánh Tông.
Dân truyền rằng khi vua đi đánh giặc Chiêm, cùng Lý Thường Kiệt, năm 1069, giao chuyện quản lý đất nước cho Bà, và Bà chăm lo rất chu đáo cho dân, vì Bà thương dân, vì Bà hiểu dân nghèo hơn ai hết. Có đại quyền điều hành đất nước, bà nhận lãnh trọn vẹn, nhân gian tôn bà là Quan Âm, nhân dân hết lời khen Bà. Khi vua qua đời, dù Bà là mẹ của Lý Nhân Tông, lên ngôi năm 6 tuổi, trước họa Tầu tặc, giờ Bà đã thành Thái phi, nhưng Bà không được chấp chính, không được trực tiếp lo chính sự, mà chỉ có Thái hậu Thượng Dương mới có quyền đó.
Vai trò lịch sử của Bà là tiên quyết, khi quân Tống muốn chiếm nước ta, với bản lĩnh của minh tướng Lý Thường Kiêt đi phạt Tống ngay trên đất Tống: tại đây chắc là có tầm vóc chủ đạo hay tư vấn chiến lược gia quân sự là Thái phi Ỷ Lan, cũng như trong cả giai đoạn phá Tống-bình Chiêm của nhà Lý. Cũng chính trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng này, Thái phi Ỷ Lan đã để lộ ra một bản lĩnh khác, một bản lĩnh vì nước mà quên tị hiềm, Bà đã triệu Lý Đạo Thành về cung, lo nội chính, để giúp nước, mà Lý Đạo Thành là kẻ đã đứng về phía Thái hậu Thượng Dương, để chống lại Thái phi Ỷ Lan thuở nào. Bà kỹ tính trong tổ chức, Bà kỹ lưỡng trong quản lý, Bà lấy một phần ngân khố để sử dụng vào việc cứu các cô gái bơ vơ, giúp họ lấy chồng; Bà chống chuyện trộm trâu, giết trâu, gây ra thiếu trâu để cày cấy thời đó, Bà ra những luật chống trộm cắp rất nghiêm minh để ngăn chặn các kẻ trộm trâu. Một tầm vóc khác của Bà là Bà có trình độ Phật học cao, tinh thông Phật pháp, sùng đạo Phật, mở mang dân trí, thích làm việc thiện, luôn nghĩ tới người nghèo, sử dụng hiền tài, đây là thời đã lập ra Quốc Tử Giám. Thực tài lãnh đạo chính trị kiệt xuất của Bà là thật sử của Việt sử. Bà là gương sáng cho mọi lãnh đạo hiện nay đang thích độc quyền để chuyên quyền mà quên bổn phận vì “dân giàu, nước mạnh”, đang chuộng tham quyền để tham nhũng mà gạt đi trách nhiệm “vì nước, vì dân”. Bản lĩnh lãnh đạo, tầm vóc quản lý, nội công tổ chức của Thái phi Ỷ Lan đi trên vai, trên lưng các đám tham quan bất tài đời nay!

Các người đã triệt: Dũng khí thống quốc của Đinh Tiên Hoàng:
Câu chuyện của Tiên Hoàng với bối cảnh loạn lạc của các sứ quân là có mần móng trong xã hội Việt hiện nay, với người dân luôn “ngắn cổ, bé họng” trước bạo quyền, từ xã, thôn, làng, xóm lên tới vùng, miền, thành phố, chịu cảnh “ngậm bồ hòn làm mật” trong một hệ thống công an trị, nơi mà tham quyền song hành cùng tham nhũng. Với các câu ngạn ngữ mới của cường quyền ác bá thời nay “ở đâu ăn đấy”, làm tướng tá thì ở biệt thự, biệt phủ giữa cái nheo nhóc của dân đen. Với các câu châm ngôn mới của quan lớn, quan bé, lạm quyền nhờ bạo quyền “ở trên ăn nhiều, ở dưới ăn ít”. Bọn “sâu dân, mọt nước” này còn nghĩ là chúng có lối thoát mà thời của Tiên Hoàng không có là: “vơ tới cùng, vét tới tận” cho đầy túi, đến khi sơn hà nguy biến thì chúng sẽ “cao chạy, xa bay” ra ngoại quốc! Chúng lầm, những quốc gia phương Tây dân chủ mà chúng chắc bẩm là sẽ yên thân để dung thân tà kiếp của chúng là những quốc gia luôn đấu tranh cho nhân quyền. Cho nên, ông bà ta nói gọn trong ẩn số kiếp người là: “lưới trời lồng lộng”, tức là “chạy đằng trời chẳng thoát”! Vì “trời có mắt”, tức là “nhân quyền có thần nhãn”, sẽ mang chúng ra xử tội (tội hình sự) với công pháp quốc tế lúc đó chúng mới hiểu rõ câu của ông bà ta: “tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”.
Tầm vóc quân sự của ngài lớn vì tầm nhìn tổ quốc của Đinh Tiên Hoàng có được là nhờ tầm cỡ chính trị của Ngài cao, dẹp được thập nhị sứ quân, để thống nhất đất nước đó chính là bản lĩnh vời vợi của Ngài. Chuyện loạn lạc bởi đám sứ quân này nằm trong quy luật khủng hoảng của các triểu đại phong kiến, mỗi lần có một ông vua suy đồi là cả xã hội bị suy thoái, có nội chiến vì vô chính phủ, có bạo động vì đầy bất công, cá lớn nuốt cá bé. Ngài dẹp lũ sứ quân này cho đất nước được trở lại thanh bình, ngừng hẳn mọi giết chóc của một thời cuộc mà người với người xem nhau như lang sói. Sự bất tài của một vương triều, vương triều đó phải nhận trách nhiệm như bọn sứ quân, cả hai phải chịu lỗi trước dân tộc, nếu không nói là tội! Tội thì chắc chắn nặng hơn lỗi, không những về hậu quả nhân sinh mà về cả hậu quả nhân đức, với sự suy sụp của giáo lý. Chính chế độ của các người độc đảng toàn trị đã cho ra đời hai quái thai là công an trị tham nhũng trị, để hai quái thai này cho ra đời một quái thai khác là tham quyền địa phương trị, đây là chỉ báo của sự xuất hiện ra hiện tượng sứ quân thời nay. Các người còn nuôi dưỡng công an trị, tham nhũng trị, tham quyền địa phương trị, thì các người chính là tội đồ trước Dũng khí thống quốc của Đinh Tiên Hoàng

Các người đã triệt: Bản lĩnh nữ Việt của Dương Vân Nga
Từ lãnh tụ thuở các người thời lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN, bản lĩnh nữ Việt của mô thức Dương Vân Nga không hề có, có thể là sẽ không bao giờ có. Sinh thời, cả nước ít ai gọi tên thật của Bà: Dương Thị, mà nhất là người ngày nay luôn gọi Bà là Hoàng hậu Dương Vân Nga, họ kể với nhau là tên này có là nhờ qua tuồng, các vở tuồng ca ngợi bản lĩnh hoàng hậu hai đời của Bà, đời Đinh và đời Lê, giai đoạn mà nước ta luôn bị giặc Tống đe dọa, rình rập, rồi xâm lược. Vậy, mà Hoàng hậu đứng như một cột trụ trung tâm để đối đầu với bọn giặc Tống, lúc thì chúng như cú vọ, lúc thì chúng chồn cáo, với bụng dạ sói lang của chúng.
Hai triều Đinh và Lê, đều không dài trong Việt sử, phận nước Việt trong dầu sôi lửa bỏng, Hoàng hậu cận kề Đinh Tiên Hoàng, Hoàng hậu sát cánh với Lê Đại Hành, trước những điểm hẹn gay gắt của thời cuộc, trước những dấu ấn gay go của chính sự, Bà luôn có mặt! Có mặt vì yêu nước thương dân, có mặt để cứu dân cứu nước. Bà bị tai tiếng trong nghi án giết vua Đinh Tiên Hoàng, lại thêm tin đồn tư tình với Lê Đại Hành; xóa triều Đinh, dựng triều Lê. Những nghi án này đi qua đi lại giữa chính sử và hư sử, nên hậu tế này xin đưa ra một đề nghị-làm-giả thuyết để tiếp tục nghiên cứu thêm về Hoàng hậu, lấy chiều cao của công tâm, lấy chiều rộng của lương tâm, lấy chiều sâu công lý, cụ thể là lấy tầm nhìn xa để phân tích tâm lý, tâm trạng, tâm sự của Hoàng hậu trước tình hình rối bời thời đó. Tại đây, hậu thế xin phối hợp hai luận thuyết: một là của triết phân tích chính trị, hai là xã hội học bối cảnh chính trị, mà hậu thế đã dùng trong các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, nay xin đưa vào trường hợp của Hoàng hậu: đó là phân tích so sánh tinh huống giữa số phầnkiếp nạn.
Số phầnkiếp nạn là hai ngữ pháp rất khác biệt nhau, từ nội dung đến vận hành để kẻ có trách nhiệm lãnh đạo đất nước biến quyết định thành quyết đoán, biến hành vi thành hành động cụ thể để thay đổi chính sự, chiến cuộc, tình thế… Hậu thế này nghĩ rằng khi Hoàng hậu đã mang lên cân, đo, đóng, đếm: một bên là số phần riêng của mình, của một triều đại; một bên là kiếp nạn của cả một dân tộc. Kiếp nạn là kiếp dài nhục nhã, đốn mạt cho muôn dân: suốt kiếp phải chịu kiếp nô lệ, cả một giống nòi sẽ mang kiếp bị đồng hóa, cả một đất nước sẽ mất mọi gốc, rễ, cội, nguồn về văn hóa, văn minh, văn hiến của mình, kể cả nhân phẩm Việt đã có sẵn trong bản sắc Việt. Hoàng hậu đã gạt số phần của mình, của triều Đinh qua một bên, để trực diện chống kiếp (hoạn) nạn cho cả một dân tộc, và chính nhờ có Hoàng hậu, mà minh tướng Lê Đại Hành mới vững tâm dẹp giặc.
Bài học gạt số phần của tư lợi để trực diện chống kiếp nạn vì dân cứu nước rất hiện đại, nó phải hiển hiện ngay trong não bộ các lãnh đạo hiện nay trước họa Tầu tặc, mà các vị này nên theo Hoàng hậu Dương Vân Nga là: dẹp thù trong trước, để sau đó lo cho đại cuộc là: giặc ngoài! Từ lãnh tụ thuở các người thời lập đảng rồi cướp chính quyền tới các lãnh đạo hiện nay của ĐCSVN, các người không hề học kỹ lưỡng bản lĩnh nữ Việt của mô thức Dương Vân Nga. Các người luôn đi tìm chỗ dựa ngoại bang, lúc thì Liên Sô, giờ thì Tàu tặc, các người sẽ không thấy và không thấu được bài học Dương Vân Nga trong nhân sinh quan độc đảng toàn trị của các người.
Lê Hữu Khóa
Giáo sư Đại học * Tiến sĩ quốc gia trường gia Cao học khoa học xã hội Paris * Tiến sĩ xã hội học Đại học Nice-Sophia Antipolis * Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa  Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.

Triệt Hiện Sử Việt (P3)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s