Tội Phạm Luận (P2)

Tội ác là nguồn, tội phạm là rễ, 

tội nhân là gốc, tội trạng là cội…

có cành thâm, lá hiểm, trái độc.

Tết Mậu Thân 1968: thảm sát tại Huế

Tội phạm diệt dân lành, tội ác giết nhân tâm

Trong chiến dịch mà lãnh đạo cộng sản đặt tên là Tổng Công Kích trong dịp Tết Mậu Thân năm 1968, cuộc thảm sát dân lành tại Huế là một tội ác có tổ chức. Trong tội phạm học gọi là loại tội ác  tính toán trong hận thù để hành động của tội phạm không còn bị giới hạn gì về luân lý ngay trong nhân tính của nó.

Bộ đội với vũ khí vào Huế và chiếm đóng Huế trong một thời gian ngắn để gây ra tội ác. Trong quy trình diễn biến của tội ác đó có sự tham dự của các nhân vật địa phương trước đó đã ủng hộ hoặc đã theo cộng sản, trong đó có các trí thức, các văn nghệ sĩ tại Huế. Khi nghiên cứu về cuộc thảm sát dân lành tại Huế, người nghiên cứu phải chú ý đi tìm các chứng từ và các chứng nhân để phân tích rồi giải thích các sự kiện:

  • Chủ trương của Bộ Chính Trị có dính líu gì tới cuộc thảm sát này.
  • Chính sách của Quân Ủy trách nhiệm mặt trận Huế.
  • Vai trò của các nhân vật gốc Huế tập kết và theo bộ đội trở lại Huế vào thời điểm của thảm sát.
  • Hành vi của bọn vừa tố cáo qua vu khống, vừa chỉ điểm cho các sát thủ tới từng khu vực, từng gia đình…
  • Hành động của các tội phạm trực tiếp quyết định và hành quyết tập thể dân lành rồi vùi các nạn nhân vào các mồ chôn tập thể.

Phương pháp luận nghiên cứu về tội ác này, phải là sự phối hợp hỗ tương tại thành phố Huế, rồi lan rộng ra cấp quốc gia cùng quốc tế để tổng hợp từ chứng nhân tới chứng từ:

  • Các thành viên của gia đình còn sống sót lại sau cuộc thảm sát hiện nay đang có mặt tại Huế.
  • Các thành viên của gia đình còn sống sót lại sau cuộc thảm sát hiện nay sống tản mạn trên các địa phương, thành phố xa, gần Huế.
  • Các thành viên của gia đình còn sống sót lại sau cuộc thảm sát hiện nay đang sống lưu vong, đã định cư tại nước ngoài, nhất là tại Bắc Mỹ và Tây Âu sau 1975.
  • Các chứng nhân trong quân đội miền Nam trước 1975, có mặt tại Huế trong giai đoạn này và trực tiếp có những tang chứng từ hồi ký tới hình ảnh về cuộc thảm sát này.
  • Các chứng nhân trong quân đội Mỹ có mặt tại Huế trong giai đoạn này và trực tiếp có những tang chứng từ hồi ký tới hình ảnh về cuộc thảm sát này.

Một tội ác đã thủ tiêu nhiều ngàn người trong một thời gian chớp nhoáng, qua một trận địa, thì tội phạm học đề nghị điều thảm sát ở Huế 1968 tra từ mức độ tới cường độ qua hai cuộc tổng tiến công trước và sau tết Mậu Thân:

  • Trách nhiệm cấp trung ương của ĐCSVN.
  • Trách nhiệm cấp quân ủy của ĐCSVN.
  • Trách nhiệm cấp bộ đội địa phương.
  • Trách nhiệm cấp địa phương của các trí thức, các văn nghệ sĩ theo cộng sản.
  • Trách nhiệm cấp địa phương của các điểm chỉ viên lợi dụng tội ác để vu oan, vu cáo, vu khống các nạn nhân.

Các chuyên gia tội phạm học khi nghiên cứu về sự cố này, không được quên:

  • Các tuyên bố man trá của cấp trung ương của ĐCSVN phủ nhận sự cố này.
  • Các lời khai giả dối của cấp địa phương của ĐCSVN chối bỏ sự cố này.
  • Các lời trần tình gian xảo của các tác nhân tìm cách “chạy tội” cho ĐCSVN về sự cố này.

Tội phạm học không được quên quá trình ăn năn, hối lỗi, quy trình nhận tội rất đơn lẻ của các tội phạm, mà không quên các đồng phạm, các đồng loã có mặt tại Huế trong thời điểm này.

Trại học tập 1975-1990: Tội ác mạo danh cải tạo

Trại học tập hay trại cải tạo là một trong những trung tâm của nhiều tội ác trong nửa cuối thế kỷ XX dưới bạo quyền của ĐCSVN, mà số lượng hồi ký của những nạn nhân mang tới những tin tức, những dữ kiện, những chứng từ sống động, ngược lại với sự vắng mặt xem như là tuyệt đối của những công trình sử học cận đại của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Tồi tệ nhất vẫn là sự im hơi vắng tiếng của các lãnh đạo ĐCSVN để tổng kết những kinh nghiệm đau thương của các trại học tập trong đó trí lực con người bị truy lùng, tâm lực còn người bị hủy diệt cùng với thể lực của kiếp tội nhân trong các nhà tù không tường, với cái tên gian trá là trại học tập, trại cải tạo. Sự giả dối của các lãnh đạo ĐCSVN đã thành phản xạ của tà kiếp khi bộ máy của tuyên giáo đưa ra con số khoảng 50.000 người bị đi cải tạo từ 1975 tới 1978, trong khi chính Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cùng thời điểm đó lại trả lời phỏng vấn với báo chí Pháp rằng chính tay ông đã ký cho ra khỏi tù khoảng một triệu nạn nhân của trại cải tạo. Chính thời điểm chấm dứt nội chiến Bắc-Nam, khi đất nước được ĐCSVN gọi là giải phóng, thống nhất, thì người miền Nam gọi là cưỡng chế, bức tử; nơi mà người miền Nam thua trận khám phá ra sự man trá của ĐCSVN ở cấp quốc gia. Với xảo thuật là yêu cầu các quân nhân, viên chức, trí thức, văn nghệ sĩ… trình diện để được chế độ mới của ĐCSVN kêu gọi đi “học tập chỉ vài ngày”, và trên thực tế thì rất nhiều nạn nhân này phải chịu cảnh tù đầy nhiều năm trời! Với nhiều nạn nhân đã tử vong ngay trong điều kiện “học tập”dã man này, mà chính quyền vẫn từ chối đưa ra thống kê chính xác về con số tử vong. Các chứng nhân còn sống sót khẳng định là có những cuộc hành quyết công khai và lén lút nhưng không có phân xử, không có tòa án. Trong Phật giáo có Thích Thiện Minh, trong trí thức có luật sư Trần Văn Tuyên, có triết gia Hồ Hữu Tường, trong giới văn nghệ sĩ có Tạ Ký, mà chúng ta không quên trường hợp của thi sĩ Vũ Hoàng Chương lâm trọng bệnh trong trại học tập, khi được thả về nhà thì qua đời.

Các chứng nhân chính là nạn nhân của các trại học tập từ Nam ra Bắc đều công nhận có tra tấn, có thủ tiêu các nạn nhân trong các trại học tập, cách giết người dã man mạt vận nhất không tốn kém một viên đạn nào là đập vỡ sọ các nạn nhân giữa đêm trên bãi vắng hay ngay trong trại. Song hành với tội ác là sự man trá của tà quyền trong đời sống thường nhật qua các bản kiểm thảo, các lời tự khai, các khảo tra bằng tra tấn hoặc các buổi phê bình và tự phê bình cùng với chiến dịch nhục mạ nạn nhân bằng những khẩu lệnh, những tuyên truyền bất nhân nhất. Sỉ nhục chế độ miền Nam qua tuyên truyền một chiều, nhục mạ các quân nhân, viên chức, trí thức, văn nghệ sĩ của miền Nam bằng những lời lẽ tồi tệ và thâm độc. Cạnh đó không quên khai thác sự sợ hãi của các nạn nhân, để tổ chức các điểm chỉ viên là các cá nhân chấp nhận làm “antenne” cho quản giáo, để chia rẽ, để phân hóa, để truy cùng diệt tận các nạn nhân bị nghi ngờ là vẫn còn nguy hiểm cho chế độ mới. Tất cả từ điểm chỉ viên tới các công dân liêm chính mang số kiếp “cá nằm trên thớt” mà các quản giáo, các cai ngục có quyền sinh sát. Tất cả những ai đã là nạn nhân của các trại học tập đều xác nhận là không phải trại mà là nhà tù, không có học tập mà chỉ có cái ngu cầm quyền bằng cái độc để cái ác lộ diện nguyên hình của kẻ thắng trận bằng bạo lực, chớ chưa hề thắng cuộc bằng nhân tâm, vì chính kẻ thắng đã mất hẳn nhân đạo của đồng bào, nhân tính làm nên nhân nghĩa giữa các con dân của Việt tộc. Chính khi là nạn nhân trong các trại cải tạo, thì những người này mới nhận ra tội ác của kẻ cầm quyền mới: phải ăn cơm trộn với cát, phải tự bắt côn trùng, rắn rít mà ăn, phải đi lao động trên các bãi mìn, phải bị chuyển trại thường xuyên trên cả ba miền của đất nước. Với những thủ đoạn chỉ có con người cộng sản mới có, mà người quốc gia miền Nam không sao hình dung được: khi một tên quản giáo báo cho cả trại là các tù nhân cải tạo được chính quyền phóng thích, nhưng họ phải tự xoay sở phương tiện để tới một thành phố xa trại hằng trăm cây số, và sẽ có xe đang chờ họ trong thành phố này. Khi các tù nhân cải tạo phải lặn lội, đi bộ trong nhiều ngày đường với thực phẩm rất ít, và khi họ tới được thành phố là nơi hẹn của cả trại, thì họ khám phá ra là họ bị lừa: giờ thì tất cả phải lên xe tù để bị chở đi một trại giam khác! Không có chuyện phóng thích, không có chuyện được “thả về nhà”, mà chỉ có sự xảo trá như phản xạ để họ phải vượt suối trèo đèo bằng chính sức lực của họ…Tội phạm học sử liệu trên các tội ác của các trại học tập, phải song hành cùng tội phạm học điều tra về các nạn nhân với các chứng tích và hồi ký của họ. Rất nhiều nạn nhân còn đang sống trên nhiều vùng của đất nước, mà không quên các nạn nhân hiện nay đang có mặt trên nhiều quốc gia, nhất là tại Bắc Mỹ và Tây Âu:

  • Về nghiên cứu tư liệu, phải vận dụng được toàn bộ dữ kiện qua tổng kết quy trình chứng nhân-chứng từ-chứng tích để định vị không gian của các trại học tập với các thời điểm của nó từ 1975-1990.
  • Về điều tra thực địa, phải tập hợp được đồ hình địa lý của các trại, mà không quên tiếp nhận thật rõ chứng tích về sự hà khắc của mỗi trại tập trung, thâu nhận các dữ kiện về số nạn nhân đã tử vong tại các trại qua hành quyết, vì bệnh tật, vì tại nạn…
  • Về khảo sát định lượng, phải lập được quy trình tin tức-dữ kiện-chứng từ về số tù nhân của mỗi trại, qua các năm trong diễn biến của chính sách về tù nhân của ĐCSVN, trong đó có chiến tranh biên giới Tây Nam với bọn Khmers đỏ (1977-79); và chiến tranh biên giới phía Bắc với bọn Tàu tặc (1979-1990), có tác động trực tiếp lên não trạng của các lãnh đạo của ĐCSVN với phản xạ khắt khe trong lúng túng của kẻ bị hai đồng chí cộng sản đàn anh là Liên sô và Trung quốc sát phạt.

Thuyền nhân 1975-1990 : Tội ác vứt người ra biển

Với nhiều triệu đồng bào phải vượt biên, với trăm ngàn đồng bào bị mất tích, tử nạn ngoài biển khơi, sau một cuộc nội chiến tàn khốc, mà kẻ thắng trận đã tạo nhiều bối cảnh, nhiều công đoạn, nhiều diễn biến để cái ác xuất hiện liên tục trong đời sống hằng ngày của miền Nam sau ngày thống nhất, mà kẻ thắng là ĐCSVN gọi là: giải phóng. Tại đây, phải vận dụng nhiều chuyên môn của tội phạm học để hiểu từ quy trình tới quá trình diễn biến của tội ác, nơi mà cái ác tạo điều kiện thuận lợi cho cái tội xuất hiện, với cường độ bất nhân của nó trước sinh mạng của đồng bào, với mức độ thất đức của nó trước đạo lý của Việt tộc:

  • Tội phạm học thượng tầng, phân tích kẻ thắng là ĐCSVN với các lãnh đạo mang tâm lý thanh trừng để thanh lọc, trong một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn 1954-1975, với bản chất thâm, độc, ác, hiểm song hành cùng các thủ đoạn điêu, ngoa, lừa, dối để thắng bằng bạo lực và tà tri, mà không hề thắng bằng nhân tâm và nhân tri.
  • Tội phạm học chính thể, giải thích được chính thể mà ĐCSVN đã áp đặt lên toàn xã hội Việt là một chế độ độc đảng-toàn trị, không biết nên không chấp nhận, không hiểu nên không thực hiện được công cuộc hòa hợp-hòa giải dân tộc cho hai miền Nam-Bắc, sau khi họ đã chiếm được miền Nam. Họ không làm được công cuộc hòa hợp-hòa giải dân tộc như Nam Phi đã làm được, sau chiến thắng của Mandela, nơi mà thực tế kỳ thị chủng tộc của đất nước này còn khó hơn nhiều lần Việt Nam, một dân tộc cùng giống nòi, cùng văn hóa, cùng lịch sử, cùng tổ tiên, gọi nhau là đồng bào, một sắc tộc có cùng bào thai, cùng cha, cùng mẹ.
  • Tội phạm học bạo hành, một sớm một chiều sau ngày chiến thắng 30/04/1975, ĐCSVN đã dựng lên và nhốt vào các trại học tập, với tên gọi nữa là trại cải tạo nhiều trăm ngàn người. Các nạn nhân là những sĩ quan, quân lính, công chức, trí thức, văn nghệ sĩ… trong nhiều năm, mà những kẻ lãnh đạo ĐCSVN đã gian dối với họ và với gia đình họ là chỉ đi học tập vài ngày, vài tuần rồi về lại về nhà. Thực chất các trại học tập, hay trại cải tạo này là những nhà tù, xa thành phố, xa dân cư, trong các vùng mà tù nhân gọi là rừng thiêng nước độc, với quy chế tổ chức của các nhà tù hà khắc, coi mạng người như cỏ rác.
  • Tội phạm học định chế, hàng triệu gia đình của đồng bào miền Nam rơi vào đường cùng với các định chế độc tài trong toàn trị: Có người thân là tù cải tạo, phải có hộ khẩu mới được cư trú, lại bị xếp vào các loại lý lịch có dính líu tới ngụy quân, ngụy quyền… Và tội ác đã mở một cánh cửa mới là:
  • Chính sách kinh tế mới, gửi bao đồng bào, bao gia đình vào vùng rừng thiêng nước độc, không một chuẩn bị gì về hạ tầng, để rồi bệnh tật, chết chóc xuất hiện… Tội ác của độc quyền toàn trị dẫn kẻ có quyền lực đi từ tội lỗi này tới tội lỗi khác. Các đồng bào là nạn nhân của chính sách kinh tế mới, họ về lại thành phố, nơi họ đã từng sinh sống trước 1975, để trở thành những kẻ sống trên lề đường, đầu đường xó chợ, với cảnh màn trời chiếu đất, nhận kiếp bụi đời, sống như các oan hồn, ngay trong thành phố, ngay trên quê hương họ!
  • Tội phạm học lý lịch, khi bị xếp vào các loại lý lịch có dính líu tới ngụy quân, ngụy quyền của chính quyền miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa, thì họ coi như mất quyền công dân, họ không được vào cơ chế của công chức, lại liên tục bị tra hỏi khi tìm được các công việc mới. Mà tồi tệ nhất là con em của họ không được học hành bình thường, không được thi vào nhiều trường đại học. Từ chồng tới vợ, từ cá nhân tới gia đình không có một lối thoát bình thường từ hành chính tới định chế.
  • Tội phạm học kỳ thị, nơi mà con quan của ĐCSVN thì được làm quan, con ngụy thì phải nhận kiếp ngụy, không sao thăng tiến được qua nghề nghiệp, không sao thành tựu trong xã hội. Chính sách kỳ thị từ cái ác của thượng tầng lãnh đạo đã tạo ra định chế, làm ra biên chế bạo hành qua trại học tập, qua kinh tế mới, có luôn lý lịch và kỳ thị, như khai trừ các con dân miền Nam ra khỏi chính đất nước của họ.

Khi liên kết các chuyên môn này trong tội phạm học, thì sẽ thấy hiện tượng học về hệ quả Thuyền nhân (1975-1995) là hậu quả với bao hệ lụy của một chuỗi dài nơi mà cái ác đã làm ra bao cái tội trong nhiều năm:

  • Không có lối ra trong cuộc sống, nên phải vượt biên, bỏ quê hương, bỏ nhà cửa… để tìm đường sống trên một quê hương mới, với sự hy sinh lớn ngay trên tài sản của chính mình để hối lộ qua tham nhũng khi đi qua đường vượt biên.
  • Khi ra khơi thì sóng, gió, bão, giông ngoài khơi quyết định số phận của mình, mà thống kê của các hội đoàn quốc tế thông báo là nhiều ngàn đồng bào đã mất mạng trên biển.
  • Khi ra biển, thì tính mạng vẫn không an toàn, với bọn hải tặc, phần lớn gốc Thái Lan đã xâm phạm nhiều phụ nữ Việt, giết chóc đồng bào thuyền nhân để cướp của, cướp tiền, cướp vàng.
  • Khi chưa ra biển, hoặc đã tới biển rồi vẫn có thể bị công an bắt, và cảnh tù đày bắt đầu. Khi trong tù, thì các thuyền nhân lại rơi vào quy trình hối lộ, quy luật tham nhũng của công an để được phóng thích, rồi trở về thành phố, địa phương của chính mình như những hồn ma. Bao tội ác của công an đã trắng trợn lộ diện trong một chế độ tàn ác, mà cái ác luôn được công an đại diện, có nơi chúng đã giết người để cướp của, cướp tiền, cướp vàng của các thuyền nhân.

Thảm trạng thuyền nhân không chỉ có ở miền Nam sau 1975, nó lan tràn ra Bắc với dòng người Việt gốc Hoa, trong quy trình bị quy chụp là nội gián cho Trung Quốc khi đang có chiến tranh với Việt Nam năm 1979- ngay sau chiến tranh biên giới với Campuchia từ 1977 tới 1979. Rồi cái ác lại tái diễn với bạo hành của bạo lực, với cái tội tới từ cái tham qua các chặng đường: Chuẩn bị vượt biên, trên đường đi bị công an biên phòng trấn lột, tù đày, ra biển không gặp giông bão, lại gặp hải tặc.

Hiện tượng học thuyền nhân cho xuất hiện một chuyên nghành: Tội phạm học tổng quan, trong đó tội phạm học thượng tầng, tội phạm học chính thể, tội phạm học bạo hành, tội phạm học định chế, tội phạm học lý lịch, tội phạm học kỳ thị tương tác để bổ sung cho nhau làm rõ nét Việt sử cận đại dưới bạo quyền độc đảng-toàn trị. Nơi mà ĐCSVN độc trị trong độc tài với các tội ở các mức độ, mật độ, cường độ ở mức, ở tầng, ở dạng bất nhân quá cao.

Một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn (1954-1975) với nhiều triệu nạn nhân, với thảm trạng thuyền nhân lên tới hằng trăm ngàn nạn nhân, với một hình tượng tuyệt vọng tuyệt đối của một Việt tộc sống cạnh biển, với nửa quê hương là biển, lại không phải là một dân tộc với kinh nghiệm đường thủy cao, đã vô tình biến Biển Đông của mình thành nghĩa trang mênh mang chôn vùi bao đồng bào thuyền nhân. Đây là hậu quả của hậu quả về một chính sách nơi mà bạo quyền độc đảng-toàn trị luôn cầm dao, cầm súng để trừ, để khử, để vất ra khơi, đưa đồng bào vào lối chết: Tội ác của bạo chính bằng tử lộ!

Tù nhân lương tâm: Tội ác hủy nhân để diệt thiện

Chế độ độc đảng-toàn trị hiện nay trên quê hương Việt là một chế độ dùng hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) để đàn áp các chủ thể của tự do yêu dân chủ, các tập thể của nhân quyền quý công bằng, các phòng trào xã hội trọng đa nguyên để phát triển đất nước, tất cả họ là những đứa con tin yêu của Việt tộc. Từ đàn áp tới khủng bố từ, từ bắt bớ tới tù đày, ĐCSVN tạo ra một thành phần là những công dân yêu nước luôn bị truy diệt, đó là các tù nhân lương tâm, họ là những đứa con tin yêu của Việt tộc vì họ đã là những tinh hoa của đất nước.

Tại đây tội phạm học phải vào chiều sâu của triết học đạo đức để tìm cho ra những định đề về hệ nhân, trong đó có luân lý làm nền cho bổn phận đối với đồng bào và trách nhiệm đối với quê hương của các tù nhân lương tâm. Chính luân lý này có gốc, rễ, cội, nguồn trong đạo lý đi tìm và nhận ra những điều hay, đẹp, tốt, lành trong nhân sinh có trong nhân loại, hiện diện trong nhân thế để chế tác ra nhân sinh quan của chủ thể (không sống ích kỷ, vô cảm mà sống để chung để chia các nỗi khổ niềm đau với đồng bào, đồng loại). Nhân sinh quan có sung lực dựng lên thế giới quan (sống không tham lam, không vụ lợi, sống để bảo vệ sự sống của tha nhân, để duy trì các sự sống khác, vì giá trị của sự sống là vô giá); chính Nhân sinh quan và thế giới quan có hùng lực xây dựng vũ trụ quan (sống không độc quyền trên thiên nhiên, sống không độc đoán trên muôn loài, sống không độc hại vì biết tôn trọng mọi sinh vật, trân quý muôn loài như các giá trị linh thiêng: Sinh linh).

Chính bản thể luận (ontologie) của đạo đức, đạo lý, luân lý của hệ nhân sẽ giải thích tới nơi tới chốn hiện tượng luận (phénomènologie) về tù nhân lương tâm. Hiểu nguyên nhân sâu xa về các loại tội ác mà chế độ độc đảng-toàn trị của ĐCSVN hiện nay nhẫn tâm trong quá trình chế tác tội ác, bất nhân trong quá trình sử dụng tù đày, lao lý để truy diệt các đứa con tin yêu của Việt tộc, các tinh hoa của đất Việt, đó chính là các tù nhân lương tâm. Từ chế độ độc đảng tới các cơ chế độc đoán của nó, từ tổ chức hành pháp độc trị tới vận dụng lập pháp độc quyền, từ thao túng Hiến Pháp độc tôn tới giật dây tư pháp trong độc tài… mà các tù nhân lương tâm là những nạn nhân; vì họ đã là tác nhân vạch ra để chỉ vào các khuyết điểm giờ đã thành khuyết tật không sao trị chữa được của ĐCSVN:

  • Độc tài nhưng bất tài trong việc điều hành và phát triển đất nước.
  • Độc quyền vì tham quyền mà không biết bảo vệ đất nước và dân tộc.
  • Độc trị mà không biết quản trị, chỉ vụ lợi rồi tư lợi trên tiền tài nhân dân.
  • Độc tôn để độc hành trong độc đạo trong tham ô, tham nhũng.

Nên độc đảng đã truy diệt hệ đa (đa nguyên, đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu), từ đây, tội phạm học phải nhận cho ra hệ của mọi hệ để thấy chiều sâu của tội ác:

  • Hệ quả của tội ác truy hại các tù nhân lương tâm là truy diệt không những những tiềm năng hay, những sinh lực tốt, những phẩm chất đẹp, những đạo đức lành, mà độc đảng-toàn trị còn hủy hoại các chủ thể đại diện cho luân lý của cộng đồng, đạo lý cho tập thể.
  • Hệ lụy của tội ác truy hại các tù nhân lương tâm là truy diệt không những gốc, rễ, cội, nguồn của đạo đức, đạo lý, luân lý cần thiết cho cuộc sống trong ấm ngoài êm, cho dân tộc hạnh phúc, cho nhân loại thái hòa; mà độc đảng-toàn trị còn hủy hoại các chủ thể của tự do, công bằng, bác ái làm nên ý nghĩa của văn minh, làm nên ý thức của văn hiến, làm nên nhận thức của nhân văn.
  • Hệ kết, mà kết cuộc là ĐCSVN đã và đang truy diệt các chân trời của tương lai mà mọi thế hệ mai sau, bằng cách truy diệt ngay thượng nguồn các tấm gương sáng và trong được đại diện bởi các tù nhân lương tâm.

Hệ hạ nguồn (hệ quả, hệ lụy, hệ kết) của tội ác là truy diệt mọi thượng nguồn (đạo đức, đạo lý, luân lý) có mặt để truất phế, để sa thải quyền lực và quyền lợi của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn). Nhưng thượng nguồn của mọi hệ thượng nguồn (đạo đức, đạo lý, luân lý) có trong Việt tộc là gì? Đâu là nội dung của nó? Đâu là ý nghĩa của nó? Đâu là giá trị của nó? Và khi trả lời được các câu hỏi này, thì nội công, bản lĩnh, tầm vóc của tội phạm học sẽ được nâng ngang tầm, ngang lứa, ngang hàng với các chuyên nghành đàn anh của nó: Sử học, triết học, chính trị học, xã hội học…. Tại đây, bản thể luận (ontologie) và hiện tượng luận (phénomènologie) làm nên đường đi nước bước cho tội phạm học (criminologie) có chung một lõi, một cốt, một chất, đó là: Nhân học (anthropologie), mở ra cánh cửa của nhân tính dựa trên nhân tri, là không chỉ học để làm người mà học để thành nhân, vì sinh ra là người nhưng phải học mới thành nhân.

Hệ nhân được người thầy tin yêu của Việt tộc đã chứng minh Việt tộc vừa là một dũng tộc biết đánh thắng mọi ngoại xâm, vừa là một minh tộc có minh trí để chế tác ra mưu lược, đã bứng quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt, đó là Nguyễn Trãi. Ngài mở ra chân trời giúp các chuyên gia của tội phạm học hiểu thế nào là chữ nhân của hệ nhân; luôn đủ hùng lực lập nên hệ đối (đối diện để đối thoại, đối trí để đối luận, đối đầu để đối kháng): “Lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo”!

Một chữ nhân được trợ lực bằng cả hệ nhân, nơi mà:

  • Nhân sinh được bảo trì bằng nhân tính, con người không phải là loài dã thú, mà bọn gây tội ác thì chúng còn tồi tệ hơn dã thú, vì chúng hại người rồi giết người chỉ vì tham (tham quyền để tham ô, tham nhũng vì tham tiền).
  • Nhân thế được bảo hành bằng nhân lý, nơi mà cái lý phải song hành cùng cái tình, để tha nhân công nhận cái lý có chỉnh lý, hợp lý, toàn lý vì nó tôn trọng tha nhân, nó không làm nên cái lỗi, nên nó không sa vào cái tội, để gây tội lỗi bằng tội ác.
  • Nhân loại được bảo vệ bằng nhân bản, nơi con người sống với căn bản của nhân tính và nhân lý, làm nên bản thể của nhân văn, nơi mà văn hóa, văn minh, văn hiến được thấy qua nhân cách, nhân dạng, nhân diện.
  • Nhân tâm được bảo lưu bằng nhân từ, có từ bi song hành cùng nhân đạo, có từ tâm song hành cùng nhân nghĩa, nơi mà ăn ở có hậu, biết người biết ta, quý ta trọng người không phải là chỉ là lòng thương hại. Là sự thông minh biết gỡ cái độc để loại cái ác, biết tháo cái thâm để khử cái tội, một sự thông minh biết vượt thoát cái vô tâm, để vượt thắng cái bất nhân.
  • Nhân tri được bảo hộ bằng nhân trí, có kiến thức để dựng tri thức, lấy tri thức để lập ý thức, nhận ý thức để xây nhận thức. Sống là để dựng, lập, xây cái thiện làm nên hệ lương (lấy lương tâm dựng lương tri, có nền là lương thiện), để được sống với nhân giáo giúp thế thái nhân tình luôn giữ được nhân phẩm.

Tội phạm học phải nghiên cứu sâu đậm hệ vô (vô tâm, vô tình, vô minh, vô giác, vô cảm) cùng lúc với hệ nhân (nhân tính, nhân lý, nhân bản, nhân văn, nhân tâm, nhân từ, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân tri, nhân trí, nhân phẩm, tất cả làm nên nhân vị) như thành luỹ kiên cố để chống lại cái tội làm ra bởi cái ác. Từ đó, tội phạm học đã có đường đi nước bước để thấy, để hiểu, để thấu cái độc của một chế độ độc đảng-toàn trị với ý độ truy diệt hệ đa (đa nguyên, đa lực, đa tài, đa trí, đa năng, đa hiệu), có trong hệ nhân. Nên khi ĐCSVN truy cùng diệt tận các chủ thể của tự do yêu dân chủ, các tập thể của nhân quyền quý công bằng, các phong trào xã hội trọng đa nguyên để phát triển đất nước, tất cả họ là những đứa con tin yêu của Việt tộc được đại diện bằng hào khí của các tù nhân lương tâm, tức là chế độ độc đảng-toàn trị đang gây tội ác lên cả hai: Hại người để diệt nhân!

Dân oan: nạn nhân của tội ác lòng tham

Dân oan là nạn nhân của tham nhũng, tội phạm là bọn tham quan tạo ra tham ô, vì tham tiền, nên hiện tượng luận nhân vị phải có lý luận để lột mặt nạ chúng, từ đó phân tích và giải thích để lý luận về bản chất bất nhân của hệ tham (tham nhũng, tham quan, tham ô, tham tiền). Một tội phạm học chỉnh lý phải lý luận rành mạch về nội chất và nội dung của hệ tham này đã gây ra tội ác. Dân oan là nạn nhân của tham nhũng, chính là con đẻ của độc đảng lấy độc tài để xây dựng độc quyền, lấy độc trị để độc tôn bằng độc đoán, qua quỷ thuật của bạo quyền, qua ma thuật của tà quyền, lấy âm binh công an trị để truy bức dân oan, lấy tuyên truyền một chiều để ngu dân hóa quần chúng, để rồi tha hóa mọi giá trị đạo đức của công bằng.

Một tội phạm học toàn lý phải thấy-để-thấu cái độc hại của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn) này. Dân oan là nạn nhân của tham nhũng độc đảng, biến quyền lực thành quyền lợi, rồi biến quyền lợi thành tư lợi, chính chúng đang biến chất nhân phẩm Việt, bản sắc Việt, lương tâm Việt. Độc đảng-toàn trị cướp công ích của dân tộc, cướp công tài của đất nước, cướp công bằng xã hội rồi cướp luôn công lý của dân oan, thượng nguồn của tội ác có chất của bất nhân, có lõi của thất đức. Tội phạm học phân tích nhân tâm phải có minh lý để thông suốt nhân vị của dân oan là nạn nhân hai lần (một cổ hai tròng) của tội ác mất đất, mất nhà rồi mất luôn công bằng lẫn công lý vì công luật đã nằm trong tay của độc đảng-toàn trị.

Dân oan là nạn nhân của tham nhũng, độc đảng trong tư lợi của tà quyền. Dân oan đấu tranh đòi lại đất của họ, để đòi lại hệ công (công ích, công bằng, công lý, công luật) bằng thái độ liêm chính, bằng hành động liêm sỉ, họ liêm khiết từ lời nói tới quyết tâm. Tội phạm học biết trọng nhân vị phải có trực lý để diễn luận rõ ràng là dân oan đại diện cho hệ liêm (liêm chính, liêm sỉ, liêm khiết), họ chính là đại biểu cho sự thật xã hội, chân lý quần chúng, lẽ phải dân tộc. Dân oan là thực thể đại diện không những cho hệ công (công ích, công bằng, công lý, công luật) mà cả cho hệ liêm (liêm chính, liêm sỉ, liêm khiết). Dân oan không thể bị bỏ rơi, dân oan không thể đơn độc trong cuộc đấu tranh vì nhân phẩm Việt, được xây dựng trên nhân vị của nhân bản, nhân văn bằng nhân nghĩa, nhân từ của Việt tộc. Nước mắt của dân oan mất nhà, mất đất, tiếng gào của dân oan đòi công lý, tiếng hét của dân oan đánh thức công luận, tiếng thét của dân oan dựng dậy công luật, tiếng khóc của dân oan để nhận ra tội ác, với các tội phạm là bọn tham quan.

Thấy nước mắt dân oan để thấy tội phạm, có mang theo tiếng gào, tiếng hét chống bất công, chống bất bình đẳng – con đẻ của bạo quyền phản công lý; mọi bạo quyền đều là tà quyền, phản nhân quyền, sẵn sàng bạo hành dân oan để trộm, cắp, cướp, giật đất của họ. Bạo quyền luôn bôi đen nhân quyền, được bảo kê bởi ma quyền độc đảng, nuôi nấng công an biết cặp kè cùng côn đồ, du đãng, xã hội đen để hành hung dân oan để phá nhà, đoạt đất của họ. Dân oan đòi đất cho họ vì đất là của họ, để bảo vệ gia đình họ. Dân oan đòi đất cho các thế hệ của họ, để bảo vệ tương lai con cháu họ, nơi có cuộc sống biết trao truyền cuộc sống, có cuộc đời biết gởi gấm cuộc đời, có con người biết tiếp nối con người. Dân oan mồ côi công lý trước tội ác của bọn tham quan độc đảng, chúng là bọn buôn đất bán đời. Đất là của dân, không phải của bọn tham quan, tham đất, tham tiền. Dân oan đấu tranh chống lại tội ác của bọn tội đồ tham quan, tham ô, tham nhũng, chúng là bọn tội đồ, con đẻ của bạo quyền độc đảng, tà quyền độc tài. Đất là của dân, không phải của chính quyền bất tín qua trộm, cắp, không phải của chính phủ bất trung qua cướp, giật, tội cướp chung lứa với tội ác.

Đàn áp, đánh đập, khủng bố, hành hạ dân oan là một tội ác! Đó chính là bọn tham quan bán đất của dân oan cho bọn tham đất, cả hai chỉ là bọn tham tiền, cả hai chỉ là bọn trộm, cắp, cướp, giựt! Cả hai sống nhờ vào độc đảng-toàn trị, cả hai bọn này còn biết lạm dụng thú tính của công an để đàn áp, đánh đập, hành hạ, khủng bố dân oan. Không ai được quyền cấm dân oan đi lại trên mảnh đất của chính mình, chỉ có bạo quyền mới cấm đi lại để dễ bề trộm, cắp, cướp, giựt! Không ai được quyền cấm dân oan đi lại trên mảnh đất của chính mình, chỉ có tà quyền tham quan và ma quyền buôn đất mới cấm quay phim chụp hình, vì chúng sợ ánh sáng của công lý, hào quang của công luật, cường quang công pháp. Không ai được quyền cấm dân oan đi lại trên mảnh đất của chính mình, chỉ có tham quan tham nhũng và ma quyền tham đất mới cấm quay phim chụp hình vì chúng sợ bị lột mặt nạ vì chúng chỉ là bọn tham đất vì tham tiền, đang rất bất nhân với đồng bào của chúng. Tội lỗi bắt đầu bằng dối trên lừa dưới, đó là bản chất của bạo quyền phá nhà, cướp đất ngoài quy hoạch, đây là cội nguồn của tội ác. Lợi ích nhóm là nơi tụ họp của bạo quyền lãnh đạo, tà quyền tham nhũng, ma quyền buôn đất, đây là bọn sâu dân, mọt nước! Lợi ích nhóm là một tập đoàn tội phạm, không trộm được thì cướp, không cắp được thì giựt! Chúng đã vượt qua ranh giới của lỗi, chúng đang tung hoành trong không gian của tội để sẵn sàng gây tội ác. Tội lỗi không có lương tri về lỗi lầm, tội phạm không có lương tâm trước chính tội ác của chúng.

Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác của bạo quyền độc tài, tà quyền tham nhũng, ma quyền tham đất! Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác, mà công lý không dung, lương tri không tha. Dân oan đòi đất, dân oan đòi quyền được trong ấm ngoài êm… trên mảnh đất của mình. Dân oan đòi đất, dân oan đòi nhân quyền đuợc sống trên mảnh đất của mình, để nhân lý phải có mặt trong công lý. Dân oan đòi đất, dân oan đòi nhân vị đuợc sống trên mảnh đất của mình để nhân phẩm được bảo vệ bởi công pháp. Dân oan đòi đất, dân oan đòi nhân cách được sống trên mảnh đất của mình để nhân nghĩa được bảo vệ bởi công luật. Dân oan có nhân cách toàn diện, không những đấu tranh để đòi lại đất của mình, mà còn đấu tranh rộng hơn chống chính quyền dùng bạo lực đàn áp, khủng bố dân oan.

Dân oan đang phải chịu kiếp bụi mà thủ phạm là bạo quyền độc tài, tà quyền tham quan, ma quyền buôn đất. Số kiếp dân oan bị vùi dập bởi bạo quyền độc tài nhưng nhân cách lớn ra trong tiếng thét đòi công lý! Số kiếp dân oan bị vùi lấp bởi tà quyền tham quan nhưng nhân cách dân oan lớn ra trong tiếng thét đòi công pháp! Dân oan đòi nhân địa của mình, vì không muốn ma quyền buôn đất thổ âm hoá nhân địa của mình, chúng vùi nhân cách dân oan, chúng ngăn chặn, chúng đàn áp, chúng bóp ngộp dân oan để bứng họ ra khỏi đất của họ, đây là tội ác mà tội phạm học phải điều tra tới nơi tới chốn. Vùi nhân cách dân oan, ma quyền buôn đất phá nhà, đập nát bàn thờ, có khi chúng đá đổ rồi dẫm lên mâm cơm gia đình, chúng tra tấn dân oan ngay trên mảnh đất của họ: Đây là dung mạo của tội ác.

Dân oan sống trong oan luật được viết bằng tội ác, vì bạo quyền đã cướp luật pháp để cướp đất của dân, vì tà quyền đã trộm công luật để giật đất dân. Dân oan đòi công pháp, dân oan chỉ gặp: ma trận! Nơi mà quỷ quyền đang vây bủa dân oan! Thủ phạm là bọn tham quan cướp ngày, chúng cướp đất bằng quy hoạch, chúng cướp đất vì chúng không có nhân tính, chúng cướp đất vì chúng không có lương tri, chúng cướp đất vì chúng không có đạo lý, chúng cướp đất vì chúng không có tình nghĩa. Bọn bạo quyền độc tài bất tín xua đuổi dân oan, bọn tà quyền tham quan bất trung bắt oan dân, bọn ma quyền buôn đất bất nhân loại bỏ dân oan. Bọn gây ra tội ác này vì chúng trống lương tri, chúng chỉ biết trộm, cắp, cướp, giựt! Nên tội ác đã nhuộm đen nhân cách của chúng, chúng ăn tươi nuốt sống, chúng không có đạo đức, chúng sống nhờ buôn chức bán quyền, chúng không có luân thường, chúng chỉ biết ăn trên ngồi trốc, chúng không biết ăn ở có hậu, nên nhân kiếp của chúng sẽ vô hậu! Nhưng tội ác của chúng phải được xét xử nghiêm minh.

Lê Hữu Khóa

Vài nét về tác giả Lê Hữu Khóa : Giáo sư Đại họcLille *Giám đốc Anthropol-Asie *Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á *Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc *Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á*Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới.
Các công trình nghiên cứu Việt Nam học của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN – trang thầy Khóa.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s