Chính tri của chính trị (Phần 11)

Ghi Chú NL: Song song với loạt bài phê bình về tài liệu tại Việt Nam nói về Chủ Thuyết Vì Con Người, chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả bài viết của Giáo Sư Lê Hữu Khóa, nói về Chính Trị từ cái Chính Tri.  Đây là một bài viết mà những ai quan tâm đến một Việt Nam mới cần đọc để nắm rõ một số vấn đề hầu đánh giá được những người lãnh đạo ở tương lai. Bài viết luôn luôn đặt trọng tâm đến Con Người bởi sinh hoạt của xã hội là sinh hoạt của Con Người. Thành ra người lãnh đạo phải nắm rõ những yếu tố sinh hoạt của Con Người để biết áp dụng thực tế vào cuộc sống của Người, đưa dân tộc tiến lên thay vì lợi dụng chính trị để làm giàu, giữ độc quyền lãnh đạo mà bản chất của người lãnh đạo hoàn toàn không có Nhân Tính. Bài viết không phô trương để gửi đến Liên Hiệp Quốc như nhóm Tư Duy Tập Thể mà bài viết nhìn vào thực tế của Việt Nam để đưa ra cái nhìn chính trị nhân bản dành cho người lãnh đạo ở tương lai. Bài viết không nói đến Chủ Thuyết Vì Con Người nhưng bài viết luôn luôn hướng về cái nhìn để xây dựng một xã hội Người, một thành phần lãnh đạo có đặc tính của Con Người chứ không phải thành phần lãnh đạo của đảng csvn chỉ đội lớp Người nhưng hoàn toàn không có nhân tính Người. Chính trị ở trong bài viết này dành cho thành phần lãnh đạo. Còn Chính Trị Bình Dân tức là chính trị đáy tầng lại ở một cấp độ khác. Nhưng phải có Chính Trị Đáy Tầng để người dân trực tiếp tham gia vào cuộc sống của chính mình thì lúc đó, sự phối hợp giữa địa phương và trung ương sẽ tạo nên một bức tranh tổng thể (toàn diện). Mỗi thành phần trong xã hội, từ đáy tầng đến thượng tầng cần phải biết rõ vị trí của mình, hiểu khả năng của chính mình để đóng góp cho phù hợp vào guồng máy của xã hội thì lúc đó, xã hội mới thăng tiến chứ không phải một xã hội mạnh được yếu thua, một xã hội vô nhân tính từ thượng tầng đến đáy tầng của Việt Nam hiện giờ. 

Thực quyền

Thực quyền, không có công thức cũng không có mô hình, nên không có định nghĩa để áp dụng vào thực tế. Nếu áp dụng quyền lực một cách máy móc thô bạo vào thực trạng của xã hội thì nó sẽ tạo ra phản quyền, như phản lực để chống lại áp chế, khống chế, để chống lại áp đặt dưới nhiều mức độ, dưới nhiều trình độ, qua trực diện hay phản diện với quyền lực.

Thực quyền luôn được quyết định qua 3T (trí năng-tài năng-khả năng) của lãnh đạo, trong đó trí năng mang thực lực của 3L (lý luận-lập luận-giải luận) được vận dụng trong thực tế qua các chính sách. Tại đây, tài năng của lãnh đạo làm rõ một 3T trọng tâm khác (tri thức-ý thức-nhận thực) của quần chúng, tạo ra khả năng của lãnh đạo trong 3K (khai trí-khai lý-khai minh) cho nhân dân, để nhân dân ủng hộ cụ thể các chính sách của lãnh đạo.

Thực quyền luôn được hỗ trợ bởi 3N gốc rễ (nhân bản-nhân văn-nhân tính) trong giá trị 3V (văn hóa-văn minh-văn hiến) của một dân tộc, trong đó lãnh đạo phải biết vận dụng lý trí của một 3N của lý trí (nhân lý-nhân tri-nhân trí) luôn có mặt chỗ trung tâm trong các chính sách của lãnh đạo. Từ đó nhân dân sẽ thấy rõ 3N cốt lõi (nhân nghĩa-nhân đạo-nhân phẩm) có mặt từ lý thuyết luận tới phương pháp luận của lãnh đạo, mà nhân dân có quyền kiểm định qua kết quả và hậu quả của các chính sách này.

Thực quyền luôn nằm trong khung của 3C (bối cảnh-hoàn cảnh-thực cảnh) của một đất nước, của một dân tộc, có nền là 3T (tình hình-tình trạng-tình huống) của thời đại và thời cuộc. Trong đó, tình hình toàn cầu hóa hiện nay đang tạo các quyền lực mới tới từ khoa học kỹ thuật sinh ra một 3T mới (tin tức-thông tin-truyền thông) qua internet, qua mạng xã hội, đây vừa là thực quyền và vừa là thực chủ để khai mào dân chủ. Từ đây, tạo được tình trạng đa thông tin trong đa quyền lực, sinh ra những tình huống sinh động cho đa nguyên, linh động cho nhân quyền. Chính ba hùng lực của dân chủ-nhân quyền-đa nguyên tạo ra 3L (sung lực-nội lực-trí lực) cho nhân dân qua mạng xã hội.

Thực quyền sẽ biến độc quyền của 3Đ (độc tài-độc đoán-độc đảng) thành lỗi thời vì nó chỉ là “ma bùn” trong tà quyền, chỉ là “ma xó” trong bạo quyền, chỉ vì độc tôn đã vào “ma đạo” của độc hại, ngược lại nhân loại đang theo đa, để có đa (thực) quyền, để tạo ra đa lý, đa trí, đa tri, đa tài, đa năng, đa hiệu…

Thực quyền theo các tiêu chí trên làm nên được chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, nếu các lãnh đạo hiện nay không hiểu các tiêu chí này thì nên buông quyền! Rời quyền! Bỏ quyền!

Quyền để quyết

quyền để quyết: quyết đoán để quyết định. Quyết đoán bằng năng lực biết chủ động để khách quan hóa các kiến thức, tri thức, ý thức, nhận thức trong tỉnh táo để sáng suốt khi xây dựng quyết tâm, hoàn toàn ngược lại với độc đoán không nhận kiến thức để loại bỏ tư vấn, không nhận tri thức để trừ khử đối thoại.

Quyết đoán mở mọi cửa trước khi quyết, ngược lại với độc đoán, đóng mọi cửa trước và sau khi quyết. Quyết đoán để đi về phía chân trời có mặt trời, trái hẳn với độc đoán, đã quyết trong cực đoan, với hành vi quá khích, nên “cắm đầu, cắm cổ” đi mà không tỉnh táo tìm phương hướng, đi mà không sáng suốt cùng với các kẻ đồng hành khác.

Quyết đoán trong quyết định là kết quả tích cực của hạ nguồn sau khi điều tra cơ bản đã kết luận tính khả thi của chính sách dựa trên tính thực thi của chương trình. Quá trình này trái ngược hẳn với phản xạ tùy tiện và dễ dãi của “đồng tâm nhất trí”, với “toàn thể giơ tay biểu hiện sự đồng tình”, trong sự vô tri của lệ thuộc, tới từ vô minh vắng kiến thức sinh ra vô thức, luôn tìm cách khử ý thức.

Quyết đoán bằng quyết định để làm chính trị là nhận vai trò chủ thể 100%, làm lãnh đạo là nhận vai trò chủ thể hơn 100%, vì định nghĩa của chủ thể là: tác nhân nhận trách nhiệm trước cộng đồng, nhận bổn phận trước tập thể qua tự do để xây dựng tự chủ cho chính mình, từ đó lấy sáng kiến để sáng tạo, dùng kết quả tích cực của sáng tạo của cá nhân mình để phục vụ cộng đồng, để thăng hoa tập thể.

Quyết đoán để quyết định tôn trọng quy trình thông minh của dân chủ: đề nghị-đối thoại-quyết định-hành động, trong đó lý luận qua dữ kiện thắng các hành vi cực đoan, lập luận bằng chứng từ vượt các thái độ quá khích, giải luận với minh chứng lấp các phản xạ bảo thụ, diễn luận dựa tri thức xóa các thói quen thủ cựu.

Những kẻ lãnh đạo “sống lâu lên lão làng” nhờ “cúi đầu, khoanh tay, quỳ gối” thì nên xem lại và nên rút lui sớm. Những kẻ “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” dùng manh xảo “gà què ăn quẩn cối xay” lại càng nên rời các ghế lãnh đạo càng sớm càng đỡ khổ dân. Nhất là bọn “cố đấm ăn xôi” trong mang trá “thượng đội hạ đạp”, thì đừng cho chúng một chỗ đứng, chỗ ngồi nào cả trong lãnh đạo.

Quyền để hành

Quyền để hành động qua chính sách, để hành xử theo đạo lý thương nước- yêu dân, theo luân lý vì dân-vì nước, trong đạo đức giữ nướcdựng nước, chớ không phải để lập ra độc đảng để độc tôn, độc tài, độc quyền, để sinh ra chuyên quyền để bám quyền, tham quyền để lạm quyền.

Quyền để hành có lý trí của biết thời để giữ thế, đưa quyền lực vào thực tiễn, chống lại tính sơ cứng của mọi ý thức hệ, với mục tiêu là làm thay đổi các quy luật cứng, các tiêu chí cằn, các chỉ tiêu bất di bất dịch không tạo được phát triển, không giải quyết được chuyện “cơm no, áo ấm”, trong hoài bão “trong ấm, ngoài êm”, với ý nguyện “dân giàu nước mạnh”.

Quyền để hành để thay đổi nhân sinh quan hạn hẹp của nhân tình, mù quáng theo nhân thế, để thế vào đó là nhân tình phải có nhân tính, dựa vào nhân tri để nâng nhân trí, từ đó có nhân văn, nhân bản qua nhân đạo và nhân nghĩa. Nhân vừa là thượng nguồn của quyền, vừa là hạ nguồn của hành, cũng vừa là cầu nối để liên kết giữa quyềnhành. Hệ nhân phải có mặt trong mọi tư duy, sinh hoạt, đời sống chính trị của lãnh đạo.

Quyền để hành để chuyển đổi thế giới quan của nhân dân, giúp dân chúng thấy được nhân dân trong nhân loại, trong tương quan sống còn giữa dân tộc và thế giới, trong đó chính trị tỉnh-lãnh đạo thức làm được chuyện giải luận thương đồng bào thì phải thương đồng loại cùng trong hệ nhân với mình, biết đồng hội-đồng thuyền trong nhân chủng, thấu đồng cam-đồng khổ để bảo vệ nhân loài.

Quyền để hành để chuyển hóa vũ trụ quan của xã hội, trong đó môi trường là môi sinh, làm được chuyện môi giới để nhân dân dụng nhân lý-nhân tri-nhân trí bảo vệ 3S (chất sống-sự sống-quyền sống) của mọi sinh vật, trong đó con người biết chăm sóc, cứu vớt động vật, thực vật như chăm lo, cứu rỗi chính nhân loại trong vũ trụ quan nhân bản mà nhân dân nhận diện được trong mọi chính sách của chính quyền.

Quyền nâng dân

Quyền nâng dân là một thực tế trong các nước văn minh tức là các quốc gia hiện nay có nhân quyền nhờ dân chủ, thực tế này có được là nhờ chính thể của họ có chính quyền dùng quyền lực để nâng nhân dân của họ lên về mọi mặt, nhất là về nhân trinhân trí. Đây là mối lo, “mất ăn mất ngủ”, của các chế độ độc tài hay độc đảng đang chứng kiến rất rõ mối quan hệ gắn bó giữa nhân quyền qua dân chủnhân tri qua nhân trí.

Quyền nâng dân không những nâng mức sống của nhân dân, mà hùng lực của nó tại quốc gia hiện nay có nhân quyền, dân chủ tức là có văn minh là chuyển hóa các cá nhân, trước hết thành các cá thể phải được chính quyền tôn trọng, để thực sự có vị, có thế, có lực của chủ thể.

Định nghĩa của chủ thể là quyền giành tự do cho mình để lấy sáng kiến trong sinh hoạt xã hội. Trong đó sinh hoạt chính trị qua tuyển cử, đầu phiếu luôn làm tăng sức sáng tạo của chủ thể để càng ngày càng có nhiều tự do hơn. Chính đây là sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ: hệ độc (độc tài, độc đảng, độc quyền, độc tôn) và hệ đa (đa nguyên, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu).

Chính sự khác biệt sâu xa giữa hai hệ này đã biến thành sự mâu thuẫn, rồi trở thành xung đột, để xung kích lẫn nhau trong quan niệm cũng như trong chuyện thực thi quyền lực. Hệ độc thì tìm cách loại, tiêu, hủy, diệt sáng kiến và sáng tạo; còn hệ đa nâng, cõng, đở, đẩy sáng kiến và sáng tạo của cá nhân, không còn là những cá thể lẻ loi, mà thực sự là chủ thể có vị, có thế, có lực trong sinh hoạt xã hội cũng như trong sinh hoạt chính trị.

Quyền nâng dân là quyền nâng sáng kiến của cá nhân để cá nhân có cơ hội mà nâng tập thể, cộng đồng, dân tộc, là quyền nâng sáng tạo của chủ thể qua phát minh dùng thông minh của mình để đóng góp trực tiếp vào nguyện vọng “cơm no, áo ấm” cho dân tộc. Sức mạnh của chủ thể hiện diện luôn trong ý nguyện “nước giàu, dân mạnh”, vì chính các chủ thể được chính quyền tạo điều kiện thuận lợi từ giáo dục tới xã hội, để dễ dàng vào quy trình của khám phá, tạo ra các phát minh để đẩy mạnh phát triển, thực sự đóng góp vào chuyện “thay đời, đổi kiếp” của dân tộc theo hướng thăng hoa.

Quyền nâng dân cụ thể là để bảo đảm sáng kiến của chủ thể biết dụng tự do của mình để sáng tạo, từ đó nhận trách nhiệm trực tiếp với đất nước, từ đó nhận bổn phận tức khắc với dân tộc. Đây là nhiệm vụ của chính quyền, là “thiên vụ” của kẻ lãnh đạo, và nếu muốn lãnh đạo mà không có một ý niệm gì về chuyện dùng quyền lực của mình để nâng dân tộc mình lên thì đừng lãnh đạo! Thì đừng chiếm chỗ của người khác, nhất là khi họ là những chủ thể chính thống!

Quyền đẩy lòng tin dân chủ

Quyền đẩy lòng tin dân chủ khi mà lãnh đạo chính trị có quyền lực trong tay, chính là lòng tin vào nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, làm nên nhân bản, nhân văn để bảo vệ nhân tình, nhân sinh bằng nhân trinhân trí. Chính lòng tin này bảo đảm tuổi thọ cho một chính quyền, tuổi trọng cho một chế độ, tuổi dầy cho chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Thức vì thông minh để hiểu thấu được cái cao, sâu, xa, rộng của lòng tin, cái hay, đẹp, tốt, lành, của dân chủ.

Quyền đẩy lòng tin dân chủ là một chỉ báo để nhận định chế độ độc (độc đảng, độc quyền, độc trị, độc tài, độc trị) hiện nay của ĐCSVN đang áp đặt lên số phận của Việt tộc là quái thai đối với hệ luận chính trị tỉnh-lãnh đạo thức. Cụ thể là hành vi “đảng cử, dân bầu”, để dân chỉ có thể bầu cho đảng viên, với đại đa số dân biểu Quốc Hội đều là đảng viên, cùng lúc tổ chức mọi định chế và cơ chế từ hàng dọc tới hàng ngang đều là đảng viên, chia quyền lẫn nhau để chia chác với nhau qua độc quyền-lạm quyền-tham quyền, rồi tiến thẳng vào hệ ma đạo tham quyền-tham nhũng-tham ô.

Nội chất quái thai sinh ra các ung thư liên đới, trước nhất là ung thư này ăn mòn chất xám trong hệ của hệ thức (kiến thức, tri thức, trí thức, ý thức, nhận thức), sau đó là ăn vào hệ sáng (sáng kiến, sáng tạo), để cuối cùng là nạo rỗng hệ phát (phát minh, phát triển). Quái thai loạn trí song hành cùng nhiều ung thư loạn tuệ: số phận của Việt tộc thật bi đát! Nhưng số kiếp Việt tộc có thật đáng bi quan hay không?

Quyền đẩy lòng tin dân chủ để lập lại lòng tin dân tộc với chính trị, chính giới, qua chính tri, chính lý mà phải bắt đầu bằng sự xuất hiện của một người, một nhóm ngay trong nội bộ của ĐCSVN đại diện cho luân lý chính trị của tổ tiên, mà Việt tộc xếp vào hệ minh (minh đạo, minh vương, minh quân, minh chúa, minh chủ, minh sư…) để sáng tạo ra hoặc sáng tạo lại hệ đa (đa tri, đa trí, đa tài, đa năng, đa hiệu…) qua đa nguyên.

Và, nhờ nó rút ra các nọc độc quá độc hại của hệ độc (độc đảng, độc tài, độc quyền, độc trị, độc tôn). Không có dân chủ nếu không có đa nguyên, trước hết là để bảo vệ nhân quyền qua hệ nhân (nhân phẩm, nhân đạo, nhân nghĩa, nhân bản, nhân văn, nhân tri, nhân trí). Không có dân chủ thì cũng đừng mong có công bằng để chống bất công, lại cũng đừng chờ có công pháp để bảo đảm tự do bác ái!

Quyền đẩy lòng tin dân chủ được thể hiện qua thành tâm của chính trị tỉnh-lãnh đạo thức, xem mỗi cá nhân Việt là một chủ thể Việt được tham gia trực tiếp vào vấn đề Việt, trước mắt là chủ quyền Việt trong đó có toàn vẹn lãnh thổ Việt với ít nhất ba đòi hỏi Việt: “Cơm no, áo ấm”, “trong ấm ngoài yên”, dân giàu nước mạnh”, ba đòi hỏi rất tối thiểu trong thông minh Việt, vì Việt tộc không vô minh!

GS Lê Hữu Khóa

Nguồn:  https://baotiengdan.com/2019/06/18/chinh-tri-cua-chinh-tri-phan-11/

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s