Tư Tưởng

Trong thời gian thập niên 1930 và một lần nữa trong những thập niên 1940, 50 người Việt tự do đã bâng khuâng khi đứng trước vấn đề tư tưởng; khi Phan bội Châu và Phan chu Trinh bàn cãi về vấn đề mở mang dân trí trước hay giành độc lập trước; như Nghiêm Xuân Hồng viết về “Đi Tìm Một Căn Bản Tư Tưởng”. Có người cho rằng cần một chủ thuyết để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản (Cần Lao Nhân Vị). Vấn đề tư tưởng cũng được bàn cãi trong thập niên 1980 khi người Việt hải ngoại tính chuyện trở về VN đấu tranh.

Vấn chủ nghĩa không còn hợp thời khi chủ nghĩa CS tại Nga sụp đổ nhưng vấn đề tư tưởng lãnh đạo vẫn còn là một vấn nạn đối với các quốc gia nhược tiểu. Đào tạo một tầng lớp nhân sự có khả năng lãnh đạo, có tư tưởng chỉ đạo không thể chỉ dự vào bằng cấp, khoa bảng mà chỉ có sự tu luyện của bản thân mới đưa đến những nhân vật xuất chúng để mở đầu cho thời đại mới.

Con người là một cây sậy có tư tưởng. Tư tưởng đến từ con người. Tư tưởng chính trị phải hướng về con người. “We are the people” như phần mở đầu của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Nhân dân làm chủ đã được Cộng Sản VN lạm dụng để lừa gạt người dân VN và CSVN đã quên đi phần nhân đạo, dung hòa để kết hợp. Đạo đức cách mạng chỉ là sự ngụy biện giả tạo của CS để đánh bóng các nhân vật lãnh đạo đảng.

Tư tưởng phải phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của dân tộc, đất nước và phát xuất từ lịch sử. Vì lịch sử là dòng sinh mệnh của dân tộc qua bao thời đại. Lịch sử cũng là nhân chứng để phán xét những xung đột phe phái nội bộ đưa đến sự hủy hoại tiềm năng của dân tộc. Có cùng quan điểm về lịch sử thì mới có thể hợp tác để xây dựng chính trị trong tương lai. Chính trị hôm nay là lịch sử ngày mai.

Tư tưởng phát xuất từ cá nhân. Nếu phù hợp với lòng người và hoàn cảnh lịch sử, tư tưởng này sẽ được dân tộc chọn lựa để tiến đến tương lai. Để vượt qua những khó khăn trước mắt và trong tương lai, tư tưởng này phải rộng mở, trước hết là những cộng sự viên — nền tảng lúc còn sơ khai. Nếu Obama không gặp David Alexrod, David Plouffe thì cuộc vận động tranh cử 2008 đã không thể thắng nổi guồng máy tranh cử của Clinton.

Tư tưởng không chỉ là những lý thuyết suông hay những lời nói mát tai người nghe, hay những khẩu hiệu kích thích tâm lý quần chúng. Tư tưởng có thể tóm trong 4 điều kiện: mục đích, lý luận, nguyên tắc và chính sách. Từ đó thiết lập chiến lược cho từng giai đoạn. Từ mục tiêu dựa trên lý luận để nhận ra những điểm chính, từ đó đặt kế hoạch để thực hiện và tìm người phụ trách thi hành. Đó là những cộng sự viên đầu tiên. Một nhân vật lãnh đạo không thể thành công nếu không nhìn ra những nhân tài cần thiết. Biết dùng người: Dụng nhân như dụng mộc. Vì để giải quyết những vấn nạn của con người, tư tưởng phải giải quyết tất cả những vấn nạn kể trên. Đó mới thực sự là một tư tưởng xuyên suốt.

Căn bản tư tưởng thường dựa trên những tiêu chuẩn: hạnh phúc, tự do, bình đẳng… nhưng có lẽ không có gì quan trọng hơn hòa bình. Trong thời đại vũ khí giết người được phổ biến rộng rãi bởi những quốc gia sản xuất và buôn bán vũ khí như nguồn lợi tức. Tin tức phổ biến trên Internet giúp con người chế tạo chất nổ (IED) từ phân bón hóa học (fertilizer) một cách dễ dàng cho dù bất cứ nơi đâu trên thế giới. Khi các tư tưởng về chủ nghĩa suy tàn thì tôn giáo vẫn là nguồn gốc các xung đột trên thế giới. Nếu bạn yêu chuộng hòa bình, bạn sẽ suy nghĩ và tìm cách thực hiện hòa bình. Hòa bình mới giải phóng con người. Chiến tranh chỉ là hậu quả của những xung đột kéo dài qua nhiều lãnh vực và luôn luôn đe dọa tiêu diệt nền văn minh nhân loại bởi hiểm họa nguyên tử.

Trong lịch sử nhân loại, chỉ có hai nhân vật đặt hòa bình lên trên tất cả: Đức Phật và Krishnamurti. Cả hai đã vượt trên tầm mức quốc gia để đặt vấn đề giáo dục con người, từ đó giải phóng con người ra ngoài những ràng buộc của thế nhân và được coi là xuyên suốt. Để thấu hiểu rốt ráo tư tưởng của hai nhân vật này không phải dễ vì cả hai đã từ chối không chấp nhận các hệ thống, tổ chức, danh hiệu, quyền lợi, chức vụ, giới hạn của quốc gia, xã hội… Cả hai đã kêu gọi nỗ lực cá nhân vượt lên trên những ràng buộc để giải phóng con người. Tuy chú trọng vào giáo dục con người và tự thân của chính hai nhân vật này cũng tự giáo dục để đạt tới trình độ cao nhất của con người: giải thoát. Sau khi nhập diệt, lời dạy của Đức Phật đã phổ biến qua nhiều bộ phái, pháp môn, kinh điển qua 2500 năm đã phôi pha rất nhiều. Trong khi tư tưởng Krishnamurti đã được phổ biến khắp thế giới trong những thập niên 1950-1960, nhưng sau khi ông mất 1986 không mấy ai tiếp nối tư tưởng của ông và chiến tranh vẫn tiếp diễn trên mọi miền của trái đất. Lời dạy của Đức Phật và Krishnamurti có lẽ không cần nhắc lại ở đây. Nếu bạn hơi ngại vấn đề tôn giáo thì ráng hiểu Krishnamurti. Hiểu được Krishnamurti thì không còn gì để nói nữa.

Khi nền văn minh Đông –Tây dựa trên lý luận nhị nguyên (âm- dương, phải-trái, giàu-nghèo, tốt- xấu) để xây dựng sự cân bằng trong xã hội. Và Cộng Sản đưa ra duy vật biện chứng pháp với tiền đề, phản đề, tổng hợp đề và tiếp tục vòng tròn để cuối cùng đi vào mê trận của ngụy biện. Nhưng duy vật biện chứng chỉ là cóp nhặt của Nhân Minh Luận từ Phật Giáo. Sự cân bằng phải-trái cũng như tiền đề và phản đề phải hợp lý thì tiến lên tổng hợp đề để vượt qua bế tắc. Sự thiếu chân thật trong lý luận của cả Tư Bản lẫn Cộng Sản tạo nên thế giới ngày nay. Khi Phật Giáo dựa vào ba tấm y (áo) và khất thực (một biểu hiệu của vô sản) thì CS lợi dụng chiêu bài vô sản để cướp trọn tất cả, từ tài sản người dân tới tài nguyên quốc gia và luôn cả viện trợ nhân đạo hay phát triển xã hội đến từ nước ngoài.

Hiện nay xã hội loài người dựa trên những khu vực ảnh hưởng bởi tôn giáo. Tây Phương chịu ảnh hưởng Thiên Chúa Giáo, Đông Phương chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Khổng-Phật-Ấn Giáo. Trung Đông chịu ảnh hưởng của Hồi Giáo. Nhìn lại quá trình lịch sử Đông-Tây, chúng ta thấy Thiên Chúa Giáo và Khổng Giáo đã thiết lập các hệ thống xã hội, triết học, kinh tế, văn hóa để phát triển nền văn minh nhân loại. Nền văn minh Thiên Chúa Giáo đưa đến cách mạng khoa học –kỹ thuật từ thế kỷ 19 đến nay. Nền văn minh Đông Phương trên triết lý âm dương nhưng cuối cùng cũng hòa nhập với Tây Phương. Nhưng nền văn minh vật chất tuy vẫn tiếp tục xây dựng cấu trúc của xã hội — vẫn không đem lại hòa bình mà chỉ gây thêm chiến tranh. Mâu thuẫn trong xã hội vẫn duy trì chiến tranh như đường lối giải quyết xung đột giữa con người. Khi từng lớp người chết đi và hàng hàng lớp lớp thế hệ khác tiếp nối tiến lên thì cơ hội tự giáo dục để mở ra con đường mới xây dựng hòa bình trên thế giới vẫn rộng mở.

Bởi mâu thuẫn không phải triệt hạ, tiêu diệt nhau như duy vật biện chứng của CS. Mâu thuẫn là yếu đối nghịch như hai bàn tay vỗ vào nhau để tạo nên âm thanh, để mở đường tiến lên. Bởi thế chọn lựa sự đối nghịch và giả quyết mâu thuẫn đòi hỏi phải hiểu vấn đề, đối tượng và yếu tố tham dự. Để cân bằng A là A “không thể là B”. Để cân bằng bánh xe bên phải, đằng trước không thể là bánh xe bên trái, đàng sau được.

Khi tham thì sợ. Khi sợ thì đưa đến xảo trá, ngụy biện và tàn ác khi “lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Thế giới ngày nay cho thấy con người Cộng Sản, trong tim óc họ có một thế giới khác, một lý luận, suy nghĩ khác chúng ta. Tuy dùng chung một ngôn ngữ như Dân Chủ, Nhân Quyền.. Gia Đình, Tổ Quốc.. nhưng bên trong tận cùng lương tâm của họ nếu có — là những gì ngược lại với chúng ta thường nghĩ. Và khi lý luận (thương thuyết, thảo luận, tranh cử) hay hành động (đấu tranh, tranh cử) đưa đến bế tắc hay yếu thế thì họ sử dụng bạo lực (ám sát thủ tiêu, khủng bố, đe dọa).
Người ta nói tới cuộc cách mạng mùa Xuân của các nước Trung Đông từ Tunisia đến Syria nhưng thực sự người dân vẫn còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Hồi Giáo và thành phần quá khích. Rõ ràng khi tư tưởng, lý luận của một đảng, tôn giáo không nhằm giải phóng con người thực sự thì chiến tranh và khổ đau vẫn còn tiếp diễn. Khi đài BBC có một loạt phóng sự về kinh nghiệm tái sanh thì cánh cửa hé mở cho thấy kiếp người là chuỗi dài qua nhiều chặng đường và mỗi kiếp người như một lớp học. Nếu bạn không thuộc bài và thi rớt thì bạn phải học lại. Đức Phật chỉ ra con đường giải thoát rất ngắn gọn: từ bi và tánh không.

Khởi đầu: làm sao tránh khỏi 12 chuỗi nhân duyên trong lý thuyết nhà Phật.

Xin đọc “tánh khởi và duyên khởi”. (Hồng Dương).

Trần công Lân
Ngàn lau
Virginia 12/31/2012.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s