Lương Tâm Người Thầy, Lương Tri Giáo Dục (P2)

 Thư gởi sinh viên Trương Thị Hà,

(Tặng các bạn sinh viên đã xuống đường để chống luật đặc khu tháng sáu năm 2018,

đã bị bạo quyền công an của tà quyền độc đảng đàn áp, bắt bớ, hành hung, tra tấn…) 

Trên lưng cái hèn, trên vai cái ác, trên đầu cái bạo!

“Hà (khóc to hơn): Em là người hành nghề luật, em có quyền được mời luật sư… Thầy có thể hỏi các thầy cô đại học luật Hà Nội của em. Họ sẽ nhắc đến em là một đứa sinh viên ngoan. Ngày xưa, các thầy cô đại học luật yêu quý và bảo vệ em như thế nào mà ngày nay, thầy lại đối xử với em như vậy. Nếu các thầy cô đại học luật ở đây, các thầy cô sẽ cứu em. Em biết thầy không có nghĩa vụ phải thông báo luật sư giúp em. Nhưng em là sinh viên của thầy, em đang cầu xin thầy. Thầy ơi, thầy hãy nhìn vào mắt em. Em có giống một đứa sinh viên hư không ạ? Thầy đừng im lặng như vậy mà. Thầy chỉ cần thông báo cho các luật sư của em thôi, chỉ cần vậy thôi, thầy ơi. Em sẽ biết ơn thầy suốt đời ạ.

Công an 1: Có phải điều tra tội phạm đâu mà mời luật sư, luật sư không có quyền đến đây cả! Vô ích thôi.

Thầy: Thầy không biết về luật.

Hà (khóc và bất lực): Thầy ơi, chỉ có thầy mới cứu được em thôi. Sinh viên của thầy nghi bị người của Báo Tuổi Trẻ hiếp dâm, thầy cô trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã lên tiếng và luật sư của em đã bảo vệ quyền lợi của em sinh viên ấy. Em cũng là sinh viên của thầy, em xin thầy hãy đối xử công bằng với em như em sinh viên kia. Hãy thông báo cho các luật sư của em là em đang ở đây ạ.

Công an 4: Mệt con này quá. Giờ ký nhận được chưa?

Hà: Im lặng và nhìn thầy.

Công an 4 (Vả vào mặt Hà): Bốp. Mày không “hợp tác” à. Mày nhắc đến 3 từ “mời luật sư” nữa, tao vả cho vỡ mồm.

Thầy: Im lặng…”

 

Hà con,

Levinas Derrida, hai người thầy này là thầy của thầy trong cuối thế kỷ qua, họ đã qua đời nhưng bài học: Chất thánh của tha thứ thật, tha lỗi thật, tha tội thật của họ luôn theo thầy qua những năm tháng này, thầy đã đơn phương áp dụng hai bài học này trước tà quyền lãnh đạo, trước bạo quyền công an, trước ma quyền bút nô [1]:

  • Năm 1984, sau khi thầy xong luận án tiến sĩ thứ nhất, thầy đã tới thăm bác triết gia Trần Đức Thảo tại Hà Nội, tà quyền lãnh đạo lăm le chuyện trừng phạt thầy, (xảo phận trong bạo lộ).
  • Năm 1986, thầy đi công vụ đại học cho Âu Châu, thầy tới thăm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn, bạo quyền công an lẩn lút rồi de dọa thầy tại phi trường Tân Sơn Nhất, (tà kiếp trong ma lộ).
  • Từ 1987 tới 2000, thầy giúp đỡ các văn nghệ sĩ miền Nam ra tù, từ các trại học tập (Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên…), xây lại mộ thi sĩ Hoàng Trúc Ly, mà không quên Bùi Giáng một thân một mình trong cuộc đổi đời xuống địa ngục sau 1975. Cùng thời điểm này, thầy không quên trợ giúp các thi sĩ kính yêu của Việt tộc, sống tại miền Bắc: Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Trần Huyền Trân… bọn công an nhắn lời hăm dọa thầy, (hoạn ngôn trong âm tướng).
  • Từ 1983 tới 2019, với 50 đầu sách về Việt Nam và Việt kiều, luôn lấy sự thật-chân lý-lẽ phải làm định hướng để vạch mặt tà quyền lãnh đạo, bạo quyền công an, thì bọn bút nô, ký nô, văn nô sống nhờ bổng lộc của tuyên giáo ĐCSVN, chúng từ vu cáo tới vu khống các công trình nghiên cứu, điều tra, điền dã của thầy, chúng không dám ký tên thật, ẩn danh giấu tướng như âm binh, (gian nghiệp trong điếm lộ).

Thầy đã trả lời, từ bài tới sách của thầy, là thầy không sợ chúng![2] Cùng lúc thầy nói rõ cho chúng biết: Vị tha, từ bi, bao dung, rộng lượng, khoan hồng để mở đường cho tha thứ, tha lỗi, tha tội của thầy không cần chất thánh, mà chỉ là chất nhân! Một chất nhân an nhiên trong tự tại, thong dong trong ung dung, và thư thái trong tuyệt đối bất bạo động! Chỉ có cách này, chúng ta mới đi trên lưng cái hèn, trên vai cái ác, trên đầu cái bạo! Tất cả từ niềm tin của thầy về nhân tính làm nên nhân phẩm[3].

Mãnh lực của niềm tin

“Thầy ơi, công an tát em, em không đau cả, em đau vì thầy không bênh em, em đau vì thầy không ôm em, em đau vì thầy không che chở em. Em đau vì thầy lặng im trước hành vi chà đạp nhân phẩm và xâm phạm thân thể trắng trợn của công an Quận 1. Có lẽ, thầy sẽ không bao giờ quên gương mặt đáng thương của em tại trại tập trung Tao Đàn ngày hôm đó đâu.

Tại sao thầy ký vào biên bản do công an soạn sẵn? Tại sao thầy nói với em là thấy không biết luật, nhưng thầy lại tin những gì công an nói, chứ không tin đứa sinh viên ngoan của thầy? Tại sao thầy lại quay lưng bỏ lại em một mình ở đấy ạ?

Xin thầy hãy trả lời giúp em những câu hỏi này hoặc đơn giản là tâm sự thật lòng với em vào email: htruong692669@protonmail.com ạ.

Em tin rằng, lúc đó có công an nên thầy không thể làm những điều thầy muốn. Giống như các thầy cô đại học luật ngày xưa, các thầy cô đã âm thầm che chở và bảo vệ em. Công an đánh em, sỉ nhục em, em không đau vì đó là nhiệm vụ của họ. Nhưng các thầy cô của em không bảo vệ và che chở cho em, em sẽ đau khổ lắm thầy ơi.

Thầy ơi, chỉ có thầy mới cứu vớt được tâm hồn yếu đuối của em lúc này được thôi ạ. Hãy nói cho em suy nghĩ thật lòng của thầy. Thầy có thương em không? Chỉ cần vậy thôi là em thấy yên lòng rồi thầy ơi. Em cám ơn thầy và luôn tự hào là sinh viên khoa ngôn ngữ Anh, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn ạ.”

Niềm tin vào hệ nhân làm ra chất nhân, có hùng lực vô song, chuyện lạ là nó không cần một tôn giáo cuồng đạo nào cổ vũ nó, nó chẳng cần một ý thức hệ cực đoan nào cổ súy nó, nó thảnh thơi bằng nội lực của nó, nó thong thả bằng sung lực của nó, vì sinh lực của nó là niềm tin vào nội dung đạo lý, vào giá trị của luân lý. Niềm tin vào hệ nhân mang hệ lực (hùng lực, nội lực, sung lực, sinh lực) vô song vì nó vô hình trước mắt tà quyền nhưng hiện diện ở mọi nơi, nó có trong nội dung bầu ơi thương lấy bí cùng, nó có trong giá trị một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, nó có trong nhân phẩm hạt muối cắn làm đôi giữa các con là sinh viên đang đấu tranh cho một xã hội công bằng, cho một đất nước không bị Tàu tặc đô hộ, cho một đồng bào sống trong dân chủ để hưởng trọn vẹn dân quyền[4].

Khi thầy còn là sinh viên, có lần bọn sinh viên nhóm của thầy hỏi chính thầy của mình là giáo sư Ricoeur (Trường Giang của triết luân lý, Nam Tào của hiện tượng học phương Tây) là: «Niềm tin tới từ đâu vậy thầy?», cụ thể là nó trên trời rơi xuống, hay dưới đất mọc lên? Thì thầy Ricoeur trả lời là (mà câu trả lời này thầy nhớ trọn kiếp làm người): «Niềm tin tới từ những người tin nó, chính con người chế tác ra niềm tin, vì biết vào cuộc sống, để được sống chung, sống hòa, sống vui với nhau!».

Câu chuyện lương tâm người thầy, lương tri giáo dục,[5] có nền của nghĩa vụ học, dựa trên gốc của ba hệ giáo: Lương, liêm, nhân; có rễ là mãnh lực của niềm tin, làm tâm điểm cho cuộc đối thoại giữa con và thầy, chúng ta không lạc đề, vì không gian giáo dục, môi trường học đường luôn mang cái sáng của trí tuệ, cái trong của giáo lý, vì cả hai luôn biết dựa vào một liên minh của trí thức: Sự thật-chân lý-lẽ phải, luôn song hành cùng nhau như một phương trình toán cho nhân kiếp, giúp nhân sinh tìm ra nhân đạo, nhân thế tìm ra nhân tri, nhân loại tìm ra nhân phẩm. Vì vậy, thầy xin con giữ những tên những người thầy sau đây, để họ được đồng hành cùng con trên con đường đi tìm sự thật-chân lý-lẽ phải[6]:

  • Platon, mang tới cho chúng ta một định nghĩa: Sự thật là sự định hình của chân lý, rồi nó trở thành bất di bất dịch, nó sẽ không thay đổi, sẽ không chuyển hóa, để được mọi người nhận như một giá trị vừa hiển nhiên, vừa vĩnh hằng.
  • Augustin, đề nghị định nghĩa: Sự thật được tìm ra bởi thiện ý như là một ý chí muốn nhập nội vào sự thật để hiểu tới nơi tới chốn sự thật. Tại đây, khi ý chí dựa vào thiện ý đã trở thành ý lực thì ý lực này chính là thể lực của niềm tin, và cái tin này cũng là bước đầu của trí tuệ, giúp ta khởi hành trên lộ trình đi tìm ra cái lý để hiểu cái thật. Cả hai cái tin, cái lý sẽ tìm ra cái thật, nơi mà cái tin chọn cái lý để tạo nền tảng để đón cái thật được tới.
  • Descarte, một triết gia lấy thượng nguồn là duy lý để đi tìm cái đang ẩn sâu trong cái lý, khi ông xem sự thật khi được tung ra như một loại ánh sáng có sức sáng vô song tới để khai phá ý chí của con người muốn biết tận gốc rễ của cái thật. Chính độ sáng mãnh liệt này làm ngời cái thật được hiện hữu tròn đầy rồi hiện hình trọn vẹn giữa nhân sinh.
  • Pascal, một nhà toán học lỗi lạc, nhưng cũng biết gởi niềm tin mình vào thượng đế, lại chọn một con đường khác khi ông đề nghị ta phân tích sự thật như một nghệ thuật sống mà con người biết tự thuyết phục mình trước cái hiển nhiên vì nó rõ ràng trong tuyệt đối, đó chính là sự thật. Mà muốn tới sự thật này thì phải biết yêu cái thật để thấu cái thật. Ông chắc chắn một điều là cái yêu đi tìm cái thật làm nên cái biết, cái hiểu về cái thật.
  • Kant, có niềm tin sâu sắc về thượng đế đã chế tác ra muôn loài, nhưng cũng chính triết gia này lại đề nghị là không có niềm tin nào vô điều kiện cả, ông khuyên ta hãy đến với sự thật với sự thành thật học để hiểu. Khi ta có thiện chí để học, có công cụ của tri thức đúng để tìm ra kiến thức mới và đúng về sự thật, thì sẽ hiểu mọi điều kiện cần thiết để nhìn, để thấy, để nhận và để hiểu ra sự thật.
  • Flaubert, phân tích sự thật của con người qua vụ lợi để bảo vệ tư lợi của mình, nên sự thật trong xã hội xuất hiện với sự xung đột về quyền lợi, nơi mà mỗi tư lợi bám vào chỗ đứng của nó, cùng lúc muốn lớn ra và đe dọa các tư lợi khác. Đã giàu rồi thì muốn giàu hơn, đứng núi này trông núi nọ cao hơn, và nói theo cách của Flaubert: Quyền lực này không thể yêu quyền lực kia, chúng sinh hoạt trong xã hội để vô hiệu nhau, và nếu có điều kiện là chúng hủy diệt nhau, mọi thỏa thuận về quyền lợi đều tạm thời, mọi liên minh về quyền lực đều chóng chày, thay đổi liên hồi như nắng sớm mưa chiều.
  • Husserl, cha đẻ của hiện tượng luận đưa ra luận thuyết sự liên đới của các chủ quan để cùng công nhận là cái biết đã mở cửa cho cái thật xuất hiện, để sự thật tới như một chân lý có rễ sâu, gốc chắc mà không ai bứng được. Để cụ thể hóa luận thuyết này, ông khẳng định là: Sự thật đã có từ lâu, đã có sẵn, đã có trước câu hỏi sự thật là gì? Chính cái biết là chìa khóa để mở ra không gian của sự thật để cái thật được nhập nội vào cái biết.
  • Heidegger, môn sinh của Husserl và là triết gia sắc nhọn nhất về các lý luận hiện tượng học, khi ông tin rằng luôn có một bản thể nội tại giúp ta nhận ra sự thật, khi chủ thể muốn tìm ra sự thật, thì chủ thể phải là chủ thể mở: Mở để sống, mở để nhận, mở để biết, mở để đón sự thật, để được sống thật, sống đúng, với hai bản thể: bản thể của chủ thể song hành cùng bản thể của sự thật. Tại sao lại dùng cụm từ bản thể? Vì bản thể bên trong không phải là sự giới thiệu tên tuổi bên ngoài, tức là gặp sự vật rồi đặt tên cho sự vật đó, mà không biết nội chất và sự vận hành của sự vật này.
  • Char, là thi sĩ hàng đầu của thi ca Pháp trong thế kỷ XX, mà cũng là bạn tri thức tâm giao của Heidegger, có tặng cho triết gia này một bài thơ khi ông ví sự thật như diễn biến linh hoạt của mùa thu, đã vượt hạ để chuyển mình mà vào đông: “Mùa thu sao luôn nhanh hơn cái cào đất của người làm vườn”, chỉ vì trí tuệ của con người thường chậm hơn sự vận hành của thiên nhiên đang trùm phủ lên nó.
  • Foucault, khi nối các định đề của triết học với các thực trạng của xã hội mà con người đang sống, thì đứa con tin yêu của triết học cận đại và xã hội học đương đại này đã đặt sự thật vào giữa tri thức quyền lực. Như vậy, sự thật luôn bị chi phối bởi hai cực này, ông tin là sự thật không vô tư và không vô điều kiện, vì cả hai tri thức và quyền lực đều không vô điều kiện.
  • Bourdieu, là nhà xã hội học đã đi sâu và đi xa trên chủ thuyết khống chế để thống trị này, thầy khuyên các môn sinh phải luôn mài dũa xã hội học thật sắc nhọn, mang thể chất của một sinh lực luôn đủ hùng lực để chiến đấu vì sự thật, nằm ngay trong sự bất bình đẳng, tạo ra bất công trong mọi quan hệ xã hội.
  • Marion, là triết gia khi nghiên cứu sự quan hệ giữa sự thật và lòng tin; sự thật xuất hiện như sự vén màn mà bóng tối không còn giúp gì được cho sự giả dối đang che lấp sự thật. Khi sự thật tới như ánh sáng vừa lan tỏa, vừa xóa đi bóng tối, thì sự thật vén màn tới đâu là nhân gian khám phá cái thật tới đó, tại đây có quá trình của vén-lật-nhìn-thấy-hiểu, các động từ này chính là các chỉ báo khách quan để định nghĩa thế nào là khám phá sự thật.
  • Badou, triết gia đang có ảnh hưởng sâu rộng nhất hiện nay trong triết học hiện đại, yêu cầu chúng ta là mỗi lần đi tìm sự thật thì nên đi tìm sự bất công trước đã, chính cái bất tín làm nên sự bất công cũng chính là cái phản sự thật đang xiết cổ sự thật, để bất công được tồn tại, để bất nhân được che giấu. Và con người sẽ tìm ra sự thật của số phận mình ngay trong sự nổi dậy chống bất công, đây là một mệnh đề mới của học thuật đương đại, vì sự nổi dậy để lật đổ độc tài chính là gốc, rễ, cội, nguồn của bất công, và bất nhân, đưa ta tới con đường của sự thật; Ông khẳng định: Không phải chỗ nào có bất công là chỗ đó có nổi dậy, nhưng chỗ nào nổi dậy rồi chỗ đó chắc chắn có bất công!

***

và các bạn sinh viên, thanh niên đã đứng lên-ngẩng đầu-thẳng lưng-mạnh bước trong các cuộc biểu tình năm 2016, chống lại luật đặc khu, mà nội chất mang ẩn số của buôn nước-bán dân cho Tàu tặc, các bạn hãy đem theo hành trang tri thức của các bạn các tác giả này nhé! Vì họ giúp ta nhận ra những thử thách để ta kiểm chứng Việt tộc có phải là một dũng tộc, một minh tộc hay không trước thăng trầm hiện nay của dân tộc ta.

Thầy quý trong các con, thầy tin các con, như thầy tin vào lương tri của Việt tộc.

Lê Hữu Khóa

Lê Hữu Khóa: Giáo sư Đại học* Giám đốc Anthropol-Asie *Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á *Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO–Liên Hiệp Quốc *Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris.*Thành viên hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á* Hội viên danh dự ban Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu của giáo sư Lê Hữu Khóa, bạn đọc có thể đọc và tải qua Facebook VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa). 

[1] Chính Luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[2]Duyên luận,Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[3]Linh luận (chiều sâu tam linh Việt tộc), Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[4]Tự luận,Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[5] Giáo Luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

[6]Việt Luận, Anthropol-Asie xuất bản, facebook Vùng Khả Luận (trang thầy Khóa).

Lương Tâm Người Thầy, Lương Tri Giáo Dục (P1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s