Chỉ Số Hạnh Phúc (A case study)

 

(A New Measure of Well-Being From a Happy Little KingdomANDREW C. REVKIN , OCT. 4, 2005)

Hạnh phúc là gì? Theo như các nước Tây Phương thì được coi như tiền bạc kiếm được nhưng theo các nhà kinh tế thì là chỉ số lợi tức của mỗi đầu người biểu hiện cho sự thịnh vượng của quốc gia . Nhưng tại vương quốc Bhutan, nằm trong dãy Hy Mã Lạp Sơn giữa Ấn Độ và Trung Hoa, đang thử một suy nghĩ khác. Từ 1972, nhà vua Jigme SingyeWangchuck quyết định ưu tiên quốc gia không phải là tổng sản lượng quốc gia (GDP) mà là tổng sản lượng hạnh phúc quốc gia (Gross National Happiness).

Theo nhà vua thì sự thịnh vượng của đất nước cần phân bố khắp xã hội một cách cân xứng để duy trì truyền thống văn hóa, bảo vệ môi sinh và điều hành chính phủ.  Vị vua 49 tuổi đã và đang phát triển chính sách để thực hiện mục tiêu này.

Trong khi đó, trên thế giới, ngày càng đông các nhà kinh tế, xã hội học, lãnh đạo các công ty cũng đang cố phát triển cách phân phối tiền, y tế, thời gian sống với gia đình, tài nguyên thiên nhiên … với mục đích kiện toàn định nghĩa của hạnh phúc.

Mục đích của những người tham dự là phong phú hóa định nghĩa của từ ngữ Hạnh Phúc hơn là trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập (của Hoa kỳ), những người ký tên lúc đó đã có chủ ý khi bao gồm “sự theo đuổi hạnh phúc” như là quyền bất khả phân so với tự do và đời sống.

Theo John Ralston Saul, một triết gia về chính trị, định nghĩa hạnh phúc như một sự cân bằng mỗi cá nhân và lợi ích (interests) của cộng đồng, hàng hóa và an sinh xã hội với sự chấp nhận (contentment) của mọi người. Ông Saul là một trong số 400 người của hơn một chục quốc gia đang tìm một định nghĩa mới để đánh giá sự thịnh vuợng. Một số ghi nhận là sự chú trọng vào thương mại và tiêu thụ trong thế kỷ 20 sẽ không còn ảnh hưởng trong thế kỷ 21.

Một số các nhà giáo, nhà tu của Bhutan cho rằng Thụy Điển (Switzerland) đã thực hiện một xã hội hài lòng mọi người (contented society).

Tuy lợi tức mỗi hộ khẩu (household)  tại Bhutan là thuộc hạng thấp nhất trên thế giới nhưng tuổi thọ gia tăng 19 năm, từ 1984-1998, lên tới 66 tuổi. Hiến pháp đang được sửa lại để qui định 60% đất rừng, giới hạn du khách và xuất cảng thủy điện sang Ấn Độ.

Theo cựu Thủ Tướng Lyonpo Jigmi Thinley thì Bhutan nghĩ đến an sinh trên một nghĩa rộng hơn vật chất, chỉ là một phần, điều đó không có nghĩa con người sống hòa điệu với môi sinh và đối với lẫn nhau.

Điều nay nằm trong quan điểm của lý thuyết nhà Phật mà thập niên trước đây, một số các nhà kinh tế, các chuyên gia về chính sách của thế giới đã cho là lý tưởng thơ ngây.

Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng sự phát triển quá độ của nền kinh tế tiêu thụ  và kỹ nghệ hóa như Trung Hoa hiện nay thực sự khiến các nhà khoa học về xã hội ý thức rằng phát triển kinh tế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với tiến bộ.

Trong giai đoạn sơ khai của thoát nghèo khổ, một hộ khẩu hay một quốc gia thì lợi tức và sự hài lòng với tiến bộ gắn chặt với nhau. Nhưng trong một vài nghiên cứu khác cho thấy khi lợi tức hàng năm vượt qua 10 hay 20 ngàn thì hạnh phúc không theo kịp.

Một số quốc gia khác thì lại hạnh phúc hơn là có thể nhận được. Theo tổ chức World Values Survey từ 1995, Ronald Inglehart, một nhà khoa học chính trị của đại học Michigan thấy rằng các nước Châu Mỹ Latin hạnh phúc hơn là họ tưởng dựa trên tình trạng kinh tế.

Trong các nước cộng sản lại không hạnh phúc hơn các nước không cộng sản tuy có cùng lợi tức trên mỗi hộ khẩu, ngay cho dù sau khi chế độ cộng sản xụp đổ từ lâu.

Tiến sĩ Inglehart cho rằng trong nhiều xã hội đã giúp con người cảm thấy hạnh phúc hơn, an vui hơn tuy rằng giàu thì dù sao cũng hơn là nghèo.

Tuy nhiên một số người giàu tái xác định hạnh phúc dựa trên vị trí trong xã hội thay vì tình trạng hôn nhân.

Trong một nghiên cứu của hai nhà nghiên cứu Sara J. Solnick và David Hemenway trong năm 1998 qua 257 sinh viên, viên chức của Trường Harvard về y tế công cộng đưa ra chọn lựa lợi tức 50 ngàn một năm trong thế giới có lương trung bình là 25 ngàn (tỉ số 2/1) hay 100 ngàn với trung bình là 200 ngàn (tỉ số ½). Khoảng một nửa tham dự viên chọn trường hợp đầu vì tuy (mình) có ít hơn nhưng giàu hơn người bên cạnh. Điều này đóng góp vào nỗ lực nới rộng cách quốc gia và cá nhân đo lường về phẩm chất của đời sống. Nhưng các nhà nghiên cứu cần phải phát triển cách đo lường làm cho rõ hơn về một đời sống tốt đẹp.

Một cách tiếp cận khác là nghiên cứu xem một cá nhân sống mỗi ngày ra sao, hoạt động thường ngày khiến họ cảm thấy thế nào.

Một nhóm nghiên cứu tại đại học Princeton cộng tác với Phòng Thống Kê Lao Động làm một nghiên cứu về thời gian xử dụng của 4 ngàn người Mỹ mỗi tháng. Theo giáo sư kinh tế gia Alan B Krueger thì vấn đề là khi sinh viên phải thi khảo hạch càng khó để giúp họ thành công trong việc tìm kiếm lợi tức cao đi theo cùng vấn nạn là gia tăng áp lực tinh thần (stress) vì phải làm bài thi quá nhiều.

Theo giáo sư Krueger thì chúng ta đang nói về từng mảnh rời rạc về chiều hướng thực hiện một đời sống tốt đẹp hơn.

Một cách khác là thống kê, thị sát của cơ quan chính quyền về sức khoẻ, môi sinh, kinh tế và các hoạt động xã hội khác.

Kết quả có thể xếp song song với nhau để bổ túc lẫn nhau.

Tại Anh Quốc đang phát triển bảng chỉ số tốt đẹp gồm lợi tức, bệnh tâm thần, sử dụng công viên và tỷ lệ tội ác.  Sau đó thêm vào các vấn đề xã hội và môi sinh như tội phạm, giao thông, ô nhiễm và mức độ tái chế biến rác.

Theo ElliotMorley, Bộ trưởng môi sinh của Anh, thì những gì chúng ta làm trong đời sống có thể gây chấn động đến nhiều người khác, ngay cả chính quyền địa phương và trung ương.

Tại Canada, Hans Messinger, giám đốc về đo lường và phân tích thống kê đã làm việc với 20 nhà kinh tế gia, xã hội học để phát triển bảng chỉ số về đời sống tốt đẹp. Ông thu thập dữ kiện về tổng sản lượng quốc gia gần một thập niên nhưng vẫn tìm kiếm cách khác tốt hơn để đo lường phẩm chất của đời sống. Theo ông thì kinh tế không phải là mục đích mà là cải thiện xã hội. Và như vậy một bảng chỉ số về đời sống tốt đẹp sẽ không bao giờ thay thế GDP  vì hoạt động kinh tế ảnh hưởng bởi thời tiết, đình công và yếu tố khác thay đổi nhanh chóng hơn các chỉ số về hạnh phúc.

Nhưng sự hiểu biết về cái gì nuôi dưỡng một đời sống tốt đẹp cũng sẽ giúp các nhà làm chính sách sắp xếp các bộ luật và qui định.

Một nhóm người Canada đã cố gắng thực hiện một bảng chỉ số đầu tiên đánh giá về sức khoẻ, tiêu chuẩn sống và thời gian của cá nhân dành cho gia đình, việc làm  và các công việc khác như thiện nguyện. Thời gian tới họ sẽ phối hợp thêm đo lường về giáo dục, môi sinh, tất yếu của cộng đồng và đáp ứng của chính quyền Úc và Tân Tây Lan cũng có những chương trình tương tự.

Theo ông Ronald Colman, giám đốc nghiên cứu của Canada về chỉ số đời sống tốt đẹp thì thử thách là làm sao đánh giá về giá trị của các chỉ số khác nhau. Thí dụ như số thời gian làm việc thiện nguyện tại Canada giảm 12% trong thập niên qua. Đó là sự xuống dốc trong cộng đồng về sự sống tốt đẹp nhưng ngoài ra không có  mất mát nào khác về sự đo lường các tiến triển. Nhưng đó cũng không dễ để đánh giá chống lại các hoạt động khác. Theo ông thì tiền bạc không liên hệ gì tới việc làm thiện nguyện, và như vậy làm sao bạn có thể có những con số có ý nghĩa?

Cuối cùng bảng chỉ số của Canada chỉ là hình thức một báo cáo hơn là những con số về tổng sản lượng.

Tại Mỹ, thí nghiệm của trường Princeton đã cộng thêm yếu tố hạnh phúc vào những kiểm điểm về lao động, nhưng trọng tâm vẫn là kinh tế. Văn phòng kiểm tra (Census Bureau) vẫn thu thập dữ kiện về tài chánh và sở hữu của người dân hơn là quan điểm hay cảm giác (feeling). Sự chú trọng về tình trạng xã hội hơn là theo dõi sự nghèo đói.  Vì theo dõi sự nghèo đói, khả năng nuôi gia đình, sẽ là quá thu hẹp và sẽ làm bỏ lỡ những góc cạnh khác.

John de Graaf, một nhà thực hiện phim ảnh, cho là phải giảm thời gian làm việc vì theo ông “người nông dân thời Trung Cổ làm việc ít giờ hơn bạn bây giờ”. Trong khi Marc van Bogaert, tại Bỉ, thì hạnh phúc là “sống trong thế giới không có tiền bạc”.

Al Chaddock, thợ sơn tại xứ Nova Scotia, đề nghị “hãy là một nghệ sĩ”.

Số tham dự viên khác thì cho là chủ nghĩa tư bản vẫn cố chấp cho dù chuyển sang mục đích rộng hơn là chỉ làm ra tiền.

Một vài chuyên gia khác cho rằng các quốc gia có đời sống tốt đẹp cố gắng hạn định con số hạnh phúc có thể đe dọa chính sự hạnh phúc vì trong đời sống có cái không thể đo lường được, thí dụ như tình yêu. Đó là theo Frank Bracho, kinh tế gia của Vebezuelan.

Theo ông Messinger thì nhược điểm của sự thiết lập một mô hình, chế ngự bởi kinh tế, đòi hỏi nỗ lực. Các kinh tế gia khác thì cho rằng chính hạnh phúc chỉ là ảo ảnh.

Theo Siddiqur Osmani, giáo sư kinh tế của đâi học Ulster, Ái Nhỉ Lan,  thì: “Ngay trong tình trạng đau khổ, bạn có thể rất hạnh phúc nếu bạn được đối xử nhân đạo chút đỉnh”, và “nếu ai đó đang đói khát và được cho một chút thức ăn, thì người đó rất hạnh phúc”.

Theo các viên chức Bhutan thì khởi đầu nên nhắm vào tạo điều kiện cải thiện đời sống một cách có thể cân xứng nhất. Bhutan là xứ không có hệ thống giáo dục năm 1960, bây giờ đã có trường học đủ mọi cấp khắp nước và thầy, cô thay phiên dạy từ thành thị đến thôn quê để bảo đảm các học sinh có thể học với các thầy cô tốt nhất.

Một mục tiêu khác là duy trì sức khoẻ dân chúng qua bệnh viện và người có thể chọn phương thức chọn cách điều trị theo lối truyền hay Tây Phương.

Theo Sangay Wangchuk, người đứng đầu về cơ quan Công Viên Quốc Gia, thì không chỉ dựa trên kinh tế mà sự phân phối thực phẩm đều hòa, tốt đẹp thí dụ như chính sách nông nghiệp.

Bhutan muốn tránh kiểu mẫu của các nhà nghiên cứu của đại học Harvard cho là sự giàu có quan trọng hơn phẩm chất của cuộc sống.

TheoThakur S. Powdyel, viên chức cao cấp của Bộ Giáo Dục Bhutan, thì “mục đích của đời sống không nên giới hạn chỉ là sản xuất, tiêu thụ, càng sản xuất nhiều hơn và càng tiêu thụ nhiều hơn. Không có liên hệ cần thiết giữa mức độ sở hữu và mức độ đời sống tốt đẹp”.

Theo triết gia Saul, người Canada, thì Bhutan chuyển từ “sản xuất” sang “hạnh phúc” là một hành động thâm thúy, cơ cấu để hoàn thành và theo dõi có thể sửa đổi, nhưng mục tiêu đã vạch rõ từ đầu. Đó là sự quyết định hướng đi của nền văn minh của chúng ta sẽ đi về đâu. Nếu không có tư tưởng đúng thì chính sách vạch ra sẽ vô nghĩa.

Nhưng trường hợp của Bhutan có thể không phù hợp vói xứ rộng lớn hơn. Và ngay Bhutan không phải người nào cũng hạnh phúc. Các vị đại biểu nhân dân thú nhận đây còn là giai đoạn phát triển, nghèo và nghiện rượu còn là vấn nạn xã hội.

Áp lực để hiện đại hóa cũng gia tăng, Bhutan bắt đầu có truyền hình và Internet năm 1999 và sự gia tăng bạo động và bất mãn cũng gia tăng trong thế hệ trẻ.

Karma Pedey, nhà giáo dục Bhutan nói rằng xứ chúng tôi không hoàn toàn lý tưởng, không lỗi lầm hay hư hỏng nhưng chúng tôi rất vui khi chúng tôi có đóng góp lớn với thế giới.

Bài được dịch từ nguồn bên trên

Trần Công Lân

VA.

Phụ chú:

Theo các nhà nghiên cứu của Mind & Life Innstitute làm thí nghiệm với các nhà Psychiatrist và Neuroscientist khảo sát bộ óc của con người khi cảm thấy hạnh phúc thì một người có đầy đủ về vật chất và tinh thần để cảm thấy hạnh phúc thì một khu vực của não hiện màu xanh qua máy MRI. Điều này giống y như khi khảo sát bộ não của một nhà tu Thiền đang ở trạng thái nhập định (hạnh phúc).

Trong khi cổ nhân có câu “tri túc, đãi túc, hà thời túc”, “tri nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn”. Vậy nếu bạn biết thế nào là đủ, biết hưởng nhàn trong cuộc sống thì đó phải chăng là hạnh phúc?

Scientists say your “mind” isn’t confined to your brain, or even your body.

https://www.yahoo.com/tech/m/73876f79-a3ea-31b5-afbb-f0c984dd78a2/ss_scientists-say-your-“mind”.html

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s