Nhân và Việt (P2)

Nhân phẩm
Tết năm 1288, vừa xong chiến thắng chống bọn Nguyên-Mông, sau cuộc chiến long trời lở đất, vua Trần Thánh Tông gửi tới dân tộc một bài thơ chúc Tết rất hay và rất lạ, trong đó có hai câu: «Vũ trụ đã trong, nhơ đã lắng…. Trăng vô sự soi người vô sự». Đuổi hết cái tà ma ngoại xâm, cái u ám xâm lược ra khỏi quê hương, đất trời trong suốt trở lại; bọn giặc đi cướp nước ta chỉ là đám bùn nhơ, bẩn thỉu về nhân cách, thấp tồi về nhân phẩm, thắng rồi thì từ đây không còn chuyện gì phải lo, vô sự vì không còn gì phải bất an nữa, trăng yên bình vô sự soi người yên tâm cũng vô sự. Đối với các đấng minh quân, chuyện độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước không phải chỉ là chuyện đất đai, mà là chuyện của một nhân sinh quan phải đầy đủ từ thân tới tâm, là chuyện của một thế giới quan phải toàn vẹn từ rễ tới ngọn, là chuyện của vũ trụ quan phải tinh nguyên từ đất tới trời. Tầm nhìn của cha ông ta rất hoàn chỉnh, thế đứng của tổ tiên ta vừa vững, vừa cao. Nhân phẩm của dân tộc bắt các người lãnh đạo phải nhìn xa trông rộng như vậy.
Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã nhận ra muốn đánh thắng Trung Quốc xâm lược để thoát ách nô lệ, phải phối hợp quân sự với ngoại giao, tuyên truyền dân vận với chiến tranh tâm lý, án binh trên núi Chí Linh, nhưng không ở thế thụ động, luôn linh động để xoay chuyển nhanh nhẹn theo thời thế. Chữ thời không rời chữ thế: «Đã đố trời mà biết thời, lại có chí để thành công, đợi thời chờ dịp, giấu sắc giấu tài, ăn thường nếm mật, ngủ thường nằm gai». Mỗi chuyện trên đời này đều có cái giá của nó, cái giá của độc lập dân tộc, của toàn vẹn lãnh thổ có khi phải trả rất đắt nhưng không ai tiếc sức, tiếc công, tiếc thân vì từ kẻ sĩ tới nông dân, chỉ một tấm lòng bảo vệ quê hương: «Duy chỉ một lòng trung với hiếu, đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng». Nhân phẩm của dân tộc bắt các người lãnh đạo phải biết nắm lấy thời thế, tạo được thời cơ, sau khi đã có lòng dân như triều dâng.
Rồi tới thế kỷ XVIII với Quang Trung, nắm được thời thế trong tay đã tốc chiến, từ Phú Xuân ra giải phóng chớp nhoáng Thăng Long, vậy mà khi đất nước vừa thoát được ách vong nô, là có ngay một đám quan thần vây chung quanh vua, trao cho vua một danh sách các kẻ bị buộc tội là bán nước, là thông đồng với giặc. Vị minh quân đã xé ngay danh sách đó, làm tức khắc việc hoà hợp, hoà giải dân tộc, lại còn lập đàn giải oan cho bao sinh linh mất mạng trong cuộc chiến. Không phải trí thức, nhưng có nhân phẩm nên có tri thức để bảo vệ hoà bình. Không phải chuyên gia trong chính giới, nhưng có nhân tâm nên không cho phép kẻ xấu «dây dưa» chuyện huynh đệ tương tàn. Nhân phẩm của dân tộc bắt các người lãnh đạo phải biết từ tâm, nắm trí khoan dung để thực hiện cho bằng được đức khoan hồng, giữ lòng rộng lượng để rộng cửa cứu nhau.
Tôi đi tìm trong ngữ pháp của các dân tộc khác nhau, gần xa với Việt tộc, hiếm khi nào tôi tìm được động từ xí xoá như ta có trong việt ngữ, theo nghĩa rộng lượng để khoan dung, từ tâm để tha lỗi, không cố chấp vì mê chấp, rộng tình để rộng trí, chín bỏ làm mười. Hình như động từ xí xoá này từ đạo Phật ra, chứ không thể từ Khổng giáo tới. Vì trước các lầm lỗi, Phật khẳng định có thể tha lỗi được hết, bằng tứ vô lượng tâm, hiểu được thì thương được, thương được thì tha thứ được. Cũng câu hỏi về khả năng tha thứ của nhân sinh trước chuyện ân oán trong nhân thế, Khổng Tử trả lời hoàn toàn khác: «Nếu lấy ân trả cho oán, thì lấy gì trả cho ân?», một câu trả lời dưới dạng một câu hỏi rất nghiêm minh trong chuyện xét xử, nhưng vắng bóng của chất từ bi. Như vậy, trong tam giáo đồng nguyên tại Việt Nam, có lẽ đạo Phật đã thấm sâu vào nhân phẩm của Việt tộc hơn Khổng giáo, qua khả năng xí xoá. Tôi muốn kể một chuyện khác trong khi giới nghiên cứu phương Tây họ nghiên cứu, phân tích cách thanh trừng lẫn nhau trong giới lãnh đạo Trung Quốc. Chuyện thanh toán nhau vì quyền lực đều có trong các Đảng độc tài toàn trị, nhưng nó diễn biến một cách rất tục tĩu, rất dã man trong cách vùi dập nhân phẩm lẫn nhau khi kẻ thắng truy diệt, giết hại kẻ thua trong Đảng của Trung Quốc. Trong cách mạng văn hoá cho tới chuyện thanh trừng bè lũ bốn tên. Kẻ thua trận trên chính trường phải đội phân ra phố để đám đông bôi xấu nhân phẩm họ; từ Lưu Thiếu Kỳ tới Đặng Tiểu Bình đều phải qua cái cầu bị nhục mạ, bị phỉ báng, bị làm thô bỉ hoá nhân cách của mình trước đám đông. Hành vi tục tĩu luôn đi đôi với phong cách dã man, trước phong trào đòi dân chủ của sinh viên Trung Quốc năm 1989, các lãnh đạo Bắc Kinh đã ra lệnh cho quân đội của họ bắn vào trí thức trẻ, lấy xe tăng cán lên thân thể thanh niên của họ, ta cầu mong chuyện này đừng xảy ra trên đất nước ta, vì nó triệt hậu. Trung Quốc xưa nay, vẫn được xem là đất nước đặt ra nhiều nhục hình vô nhân nhất, nhiều cách tra tấn bất nhân nhất, Việt Nam ta rất xa lạ về lối nghĩ và lối làm này.
Có hai cách đối nhân xử thế: thanh và tục, ông bà ta luôn dặn con cháu phải chọn thanh, gạt tục; trong quan hệ hàng ngày không may gặp kẻ tục trong cuộc sống nếu phải nói chuyện, trao đổi, trả lời, ta phải luôn giữ nhân cách «đố tục, giảng thanh». Giảng thanh là nói ra lời thanh tao, vì biết lập ngôn như biết lập thân, phòng thân, thủ thân…rơi vào tục tức là đã bắt đầu mất nhân cách. Trong các cuộc đàm phán sắp tới, lúc đối diện với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, những người trách nhiệm ngoại giao của Việt Nam nên chuẩn bị tinh thần là sẽ gặp những loại người tục; ta phải luôn giữ thể diện trong lời ăn tiếng nói như giữ nhân cách, bảo vệ cái thanh như bảo vệ cái trong sạch trong nhân tính, cái trong sáng trong nhân trí. «Thân em như giếng giữa đàng, người sang rửa mặt kẻ hèn rửa chân», rửa mặt hay rửa chân, thể diện là đây; tránh xúc phạm, cẩn thận từng lời, từng chi tiết, vì «lụa kia tuy trắng, vụng cầm cũng đen », nhân tính dựa trên tử tế, tử đã là nhỏ, mà tế còn nhỏ hơn tử. Tổ tiên luôn dặn ta xa lánh các cách hành xử tục tĩu, các cách ứng xử bỉ ổi, các cách xử thế thô bỉ. Những kẻ nhục mạ, phỉ báng nhân phẩm của đồng loại là những kẻ không có văn minh, nhất là không có tri lực xí xoá.

Nhân và Việt (P3)
Lê Hữu Khóa
Giáo sư Đại học* Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. Các công trình nghiên cứu Việt Nam học của Lê Hữu Khóa có thể tham khảo qua facebook VÙNG KHẢ LUẬN (trang thầy Khóa).

 

Bình luận về bài viết này