Chính Trị và Triết Học

Chính là ngay, thẳng. Trị là điều hành (cai trị, điều trị, quản trị). Chính trị không hẳn là nắm quyền cai trị một xã hội, quốc gia. Chính trị hiểu đơn giản là làm đúng, phù hợp với hoàn cảnh (thiên nhiên, xã hội, con người).

Con người có trí óc và biết suy nghĩ. Từ suy nghĩ, phát sinh tư tưởng. Từ đó con người phát minh khoa học, toán học, triết học. Tột cùng của tư tưởng là triết học. Triết học là hệ thống suy nghĩ của con người về những vấn đề liên quan đến đời sống con người, với thiên nhiên, xã hội, đồng loại (chiến tranh, hòa bình, phát triển).

Trong khi khoa học, toán học giải quyết những vấn đề của Hình Nhi Hạ: cụ thể, rõ ràng, chứng minh {LĐA (Lý Đông A): tái thành lập, tái sinh sản…} thì Triết học là gạch nối giữa Hình Nhi Hạ và những gì thuộc Hình Nhi Thượng: trừu tượng, biến hóa vô lường theo tâm trí suy tưởng của con người. Triết học dựa vào hệ thống hóa các nguyên tắc lý luận để đi tìm kết quả hay giải thích các hiện tượng xảy ra cho con người, xã hội, thiên nhiên. Vượt lên trên những vấn đề triết học không giải thích được đã dẫn đến tôn giáo: Thần, Trời (Gods). Chính trị không có triết học dẫn dắt sẽ đi vào lệ thuộc tôn giáo, đi đến sự mù quáng, hoang tưởng.

Triết học khởi đi từ lý luận: câu hỏi được đặt ra, và đi tìm câu trả lời. Hiểu câu hỏi đặt ra tiếp theo nhau với những câu trả lời để họp thành hệ thống.  Nguyên tắc lý luận đặt ra để hướng dẫn sự lý luận được nhất quán. Triết học không phải là biện luận, hùng biện, vận dụng những lý lẽ (qua tâm lý) để lôi cuốn theo một chủ đích. Triết học phải nhắm tới cái đúng, trung thực để hướng dẫn con nguời trong cuộc sống mà con người có thể chấp nhận không bị đe dọa, khủng bố.

Khi thảo luận về các vấn đề của triết học, nguyên tắc thảo luận cần được đặt ra để tránh chuyện “ông nói gà, bà nói vịt”, đoạt từ cưỡng lý, ngụy biện … (thắng  một cuộc tranh luận không có nghĩa là thắng ngoài đời: được mọi người chấp nhận và đưa con người tới sự thật, hạnh phúc). Khi triết học đi vào phạm vi siêu hình của Hình Nhi Thượng thì rơi vào tín ngưỡng tôn giáo và dẫn đến sự tin tưởng mù quáng. Như vậy tư tưởng triết học sẽ không thể hướng dẫn tư tưởng chính trị (chỉ đạo) theo đúng nghĩa của chính trị lúc ban đầu. Khi triết học Duy Vật đi vào ngụy biện thì hậu quả là hệ thống “chính trị” xây dựng theo tư tưởng / biện chứng Duy Vật cũng sẽ là ngụy biện cho dù cũng dùng từ “tự do, dân chủ, nhân quyền, độc lập”…

Triết học là một hệ thống lý luận Tổng Thể (Phạm khắc Hàm: Triết Lý Tổng Thể). Nếu triết học chỉ ngừng ở phạm vi xã hội, kinh tế (Karl-Marx: Duy Vật) thì không thể giải quyết mọi vấn đề của con người: giáo dục, văn hóa, lịch sử, nhân chủng, chính trị … Và khi triết lý “què quặt” gặp “chính trị” gia lưu manh (Lenin, Stalin, Mao, Hồ…) thì đại họa cho nhân loại. Triết phát xuất từ con người để phục vụ con người.  Biện chứng pháp của triết đặt ra những nguyên tắc để dẫn giải các vấn đề con người gặp phải trong cuộc sống. Đứng riêng rẽ, triết sẽ không có giá trị trong đời sống con người. Kết hợp với Lịch Sử -Khoa Học, Triết Học theo Tung-Hợp sẽ cho thấy tác dụng của hệ thống tư tưởng, lý luận của con người đóng góp cho loài người. Khi con người phát triển theo thời đại, lịch sử (chiều dọc: Tung), khoa học (chiều ngang: Hợp) thì triết sẽ bị phế thải và đòi hỏi một nền tảng triết học mới.

Triết học thiết lập các nguyên tắc, lý tắc để con người áp dụng trong cuộc sống. Triết lý không thể phân biệt chủng tộc, địa lý, lịch sử, phái tính … vì phát sinh từ tư tưởng con người. Triết học phải phù hợp với lòng người (cảm tính và lý trí) và đặt những giá trị của con người lên hàng đầu. Xã hội cũng từ con người thành lập, không thể có “xã hội” mà không có con người. Cũng như thiên nhiên, nếu không có con người, cái gì gọi là thiên nhiên (nếu không đến từ ngôn ngữ và nhận định của con người về môi trường xung quanh). Quy luật của triết học phải phù hợp với Tâm-Trí con người trên mặt Tình và lý. Nếu Lý không giúp con người hiểu biết và phát triển thì Lý đó vô dụng. Nếu Tình không phù hợp với lòng người  thì Tình đó chỉ dẫn đến thác loạn.

Triết học khác khoa học, toán học bởi dựa trên tình cảm con người. Cảm xúc ảnh hưởng đến tư tưởng con người. Khoa học có thể nghiên cứu não trạng con người, phản ứng nơi con người, hoạt động của cơ thể con người … khoa học có thể chế tạo người máy nhưng không thể chế tạo bộ não với tình cảm con người, với lý luận và khả năng phát minh những suy nghĩ mới lạ phục vụ nhu cầu của con người. Đó là kết quả từ sự lý luận, tri kiến phát xuất từ tư tưởng của con người.

Con người thiết lập lý luận qua câu hỏi và trả lời.

Khi một người đối diện trước một câu hỏi, (1) không trả lời dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát. (2) không trả lời một cách phân tích về một câu hỏi cần sự trả lời phân tích. (3) không trả lời câu hỏi cần phải hỏi ngược lại trước một câu hỏi cần phải hỏi ngược lại.(4) không gạt qua một bên về một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Người như vậy không có khả năng thảo luận.

Khi một người đối diện trước một câu hỏi, (1) trả lời dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát. (2)  trả lời một cách phân tích về một câu hỏi cần sự trả lời phân tích. (3)  trả lời câu hỏi cần phải hỏi ngược lại trước một câu hỏi cần phải hỏi ngược lại.(4) gạt qua một bên về một câu hỏi cần phải gạt qua một bên. Người như vậy có khả năng để thảo luận mà không mất thì giờ chạy vòng quanh vấn để mà không bao giờ giải quyết chính vấn đề (Nhận thức và Không Tánh, Hồng Dương  Nguyễn Văn Hai, Nguyệt San Phật Học 2001).

Triết học giúp con người dự kiến về thân phận, nguồn gốc, cách đối xử với nhau, sống hòa hợp, xây dựng hòa bình tránh xung đột. Chính trị là tiên liệu, triết học là bản thảo, là kim chỉ nam để thảo luận tiên liệu. “Chính trị hôm nay là lịch sử của ngày mai”.

Triết học là kim chỉ nam cho chính trị. Nhà chính trị thiếu triết học sẽ là một nhà cai trị theo cảm hứng nhất thời hay theo những biến cố trước mắt mà không biết sẽ dẫn dắt quần chúng đi về đâu. Thiếu triết học, chính trị sẽ bi tôn giáo mê hoặc và đi vào hoang tưởng, huyền hoặc. Xã hội con người kết hợp trên nền tảng pháp luật, hiến pháp để giữ trật tự giềng mối. Pháp luật không có cảm tính (vô tự tính) vì thế pháp luật không thôi không thể đem lại hạnh phúc cho con người. Chính trị gia không có triết học sẽ không phân biệt luật lệ nào cần cho con người và xã hội.

Triết học, lịch sử và khoa học là do con người tạo nên. Con người thiếu “Tu Dưỡng” để trở thành “Thắng Nhân”  thì sẽ đi vào Triết Học, Khoa Học theo cảm hứng nhất thời và đó là thảm trạng của loài người hôm nay thôi thúc bởi ý chí vượt thắng, vươn lên từ cái cũ, quá khứ …. Triết gia và chính trị gia làm đủ mọi cách để ý tưởng, tư tưởng của mình thành hành động bất kể hậu quả sẽ như thế nào.

Con người đi tìm triết lý vì đó là lẽ sống cao nhất của loài người. Triết lý phải giúp con nguời trả lời mọi câu hỏi, vấn đề đặt ra trong cuộc sống để “Tận kỳ sở năng, Toại kỳ sở nhu và Chính kỳ sở mệnh”. Có như vậy con nguời mới an nhiên tự tại trong cuộc sống. Đi vào triết học mà không tìm ra lẽ sống, không trả lời được những vấn nạn trước mắt thì chỉ quay cuồng với chữ nghĩa, lý luận huyền hoặc mà không bao giờ trở thành Thắng Nhân và không tìm ra Thắng Nghĩa.

Đi tìm triết lý không phải chỉ để hiểu Lý mà còn phải hiểu ngoài Lý (LĐA). Con người có đủ suy nghĩ, lý luận, kiên nhẫn để tu dưỡng, chọn lựa con đường sống và phục vụ loài người  để thực hiện Duy Nhân, Duy Dân và Duy Nhiên?

Trần Công Lân

VA tháng 3, 2017

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s