A. Chính Trị Tổng Cơ
Người Việt xem chính trị là một cái gì đó ghê tởm bởi quá khứ đã chứng minh chính trị là để tranh giành quyền lực. Lý Đông A nhìn vấn đề chính trị ở dạng con người cho nên ông cho rằng “chính trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh”. Đây chính là bản chất thật của chính trị dưới góc nhìn của Duy Dân.
a. Tối Cao Quốc Thể
Đây là cơ quan có quyền hành như là một vị Tổng Thống, Thủ Tướng của các quốc gia dân chủ trên thế giới. Tuy nhiên, Lý Đông A đề nghị một chế độ không phải là Tổng Thống chế mà là Quốc Trưởng.
1. Khuôn mặt đại diện cho Tối Cao Quốc Thể chính là vị Quốc Trưởng. Quốc Trưởng được cơ quan Tối Cao Lập Pháp (Quốc Hội) đề nghị theo đa số phiếu và người dân bỏ phiếu để chọn ra một vị Quốc Trưởng.
2. Nhiệm kỳ của Quốc Trưởng là 9 năm cho một nhiệm kỳ. Nếu chọn lựa 5 năm cho một nhiệm kỳ thì tối đa là hai nhiệm kỳ. Có nghĩa là Quốc Trưởng chỉ phục vụ tối đa là 9 (một nhiệm kỳ) hoặc 10 năm (hai nhiệm kỳ). Thời chiến tranh Quốc Trưởng có thể tại nhiệm lâu hơn. Phần này người viết đề nghị hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ tối đa là 5 năm. {Tài liệu Cơ Năng Hiến Pháp, Lý Đông A đề nghị hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 9 năm (sẽ tạo trở ngại về số tuổi ở phần bên dưới số 3)}
3. Tuổi của vị Quốc Trưởng phải từ 50 được đề cử và nhậm chức đến 65 tuổi thì chấm dứt. Có nghĩa là dưới 50 và trên 65 không được giữ chức vụ Quốc Trưởng.
4. Quốc Trưởng đại diện cho quốc gia để lo về đối nội và đối ngoại. Quốc Trưởng được quyền ký các hiệp ước thương mại với nước ngoài nhưng hiệp ước chỉ có giá trị qua sự chấp nhận của Quốc Hội.
5. Trách nhiệm của vị Quốc Trưởng gồm có:
5.1 Chịu trách nhiệm trước Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).
5.2 Nắm giữ quân đội trong việc bảo vệ lãnh thổ. Tổng lý các chức quyền trong quân đội, không được kinh doanh kinh tài trên mọi hình thức (buôn bán, sản xuất, hay mua chứng khoán).
5.3 Được quyền phản bác (Veto Power) các bộ luật của Quốc Hội 3 lần trong năm.
5.4 Được miễn truy tố trong nhiệm kỳ, ngoại trừ tội phản quốc. (Đề nghị này ghi lại theo đúng tài liệu. Tuy nhiên thế hệ tương lai cần phải xét lại đề nghị này bởi không có lý do chính đáng nào, Quốc Trưởng miễn truy tố khi đã vi phạm luật, đừng nói đến chuyện phản quốc. Người viết cho rằng đề nghị này cần phải xóa bỏ bởi tạo ra hình ảnh luật dành cho quan chức khác với thường dân)
5.5 Phải chịu trách nhiệm chỉ trích, phê bình, đàn hạch của Phê Phán Viện trước Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).
5.6 Phải chịu trách nhiệm chỉ trích, phê bình, đàn hạch do Kê Sát Viện về bản thân Quốc Trưởng.
5.7 Quyền ban hành giới nghiêm khi có sự đồng ý của Quốc Hội.
5.8 Quyền tuyên chiến, hòa, đình khi được sự đồng ý của Quốc Hội.
5.9 Quyền ân xá (xóa tội), đặc xá (giảm tội án), hay chung quyết (phán quyết cuối cùng) các án từ Tư Pháp Viện hay Kê Sát Viện. Các quyền này cần phối hợp với Phê Phán Công Đường để có phán quyết chung có lợi cho toàn thể. Người viết đề nghị loại bỏ quyền này để bảo đảm sự công bằng cho nạn nhân.
5.10 Quyền tuyển bổ các chức vụ lãnh đạo các cấp cơ quan trong Xu Mật Viện; ngoại trừ chức vụ Tổng Lãm và các vị lãnh đạo ở 6 viện trong Hành Chính Tổng Cơ, Quốc Trưởng chỉ được đề nghị tuyển chọn với sự đồng ý của Quốc Hội.
5.11 Quyền triệu tập Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) thường kỳ hay lâm thời khi an ninh quốc gia bị nguy hại.
5.12 Quyền đề nghị chính sách, ngân sách với Quốc Hội. Ngân sách quốc gia do Lập Pháp Viện soạn thảo để trình lên Quốc Trưởng và được Quốc Hội chấp thuận trước khi trở thành luật do Quốc Trưởng ký.
5.13 Quyền ban tặng huy chương cho các cá nhân trong chính quyền, quân đội và thường dân.
5.14 Có những quyền hạn khác do quy định của Quốc Hội.
5.15 Quốc Trưởng đề cử người trong Xu Mật Viện để phụ giúp Tổng Lãm (người đầu lãnh đạo đầu đàn của Xu Mật Viện). Xu Mật Viện trực tiếp phụ giúp Quốc Trưởng trong việc điều hành quốc gia.
5.16 Quốc Trưởng công bố các luật pháp từ bên Lập Pháp Viện sau khi Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) thông qua luật đồng thời công bố sắc lệnh (executive order) trong việc điều hành quốc gia. Sắc lệnh của Quốc Trưởng chỉ có giá trị hai năm tạm thời và phải được Quốc Hội thông qua để biến sắc lệnh thành luật. Pháp lệnh của Quốc Trưởng là vì nhu cầu của quốc gia chứ không phải vì muốn thực hiện lời hứa với thiểu số nào đó trong xã hội.
5.17 Quốc Trưởng được quyền trưng cầu dân ý khi đối diện trước một sự kiện cần sự góp ý của Quốc Dân.
5.18 Quốc Trưởng được quyền đề nghị lãnh đạo của 6 viện (Hành Chính Tổng Cơ) với sự đồng ý của Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) và sự đề nghị này dựa vào khả năng, đạo đức, kinh nghiệm chứ không phải dựa vào đảng tính.
6. Những điều nghiêm cấm Quốc Trưởng
6.1 Không được từ chức trong nhiệm kỳ ngoại trừ bị chết, bị bệnh. Khi vắng mặt sẽ do Hành Chính Viện Trưởng tạm thay thế 6 tháng.
6.2 Không được giải tán Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).
6.3 Nếu quyền (5.9) được ân xá, đặc xá được chấp nhận trong Cơ Năng Hiến Pháp thì Quốc Trưởng không được quyền ân xá, đặc xá những người trong gia tộc; những cá nhân chưa bị kết án; những tội mang tính đảo chính, lật đổ chính quyền dân cử; những nhân viên phục vụ bộ máy chính quyền; những tội phạm buôn bán ma túy, cần sa; những tội phạm dẫn dắt ấu dâm, buôn người, hiếp dâm, giết người. Không được quyền xóa án của tội phạm.
6.4 Không được quyền sa thải các chức vụ đã được Quốc Hội thông qua hoặc các chức vụ nằm trong các viện, ngoại trừ trường hợp Kê Sát Viện, Quan Chính Viện đề nghị sa thải.
6.5 Không được quyền ký những sắc lệnh đi ngược lại Nhân Bản Cương Thường, Hiến Pháp.
6.6 Không được quyền đóng cửa bộ máy điều hành quốc gia.
6.6 Không được quyền thuê mướn những cơ sở thương mại cho sinh hoạt điều hành quốc gia mà những cơ sở thương mại đó là của người thân, họ hàng, hoặc bạn bè.
6.7 Không được quyền đề nghị người thân vào chức vụ lãnh đạo, góp ý trong cơ cấu điều hành quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quốc Trưởng.
6.8 Không được quyền chuyển ngân sách đã được quy định cho mục tiêu (cơ quan) nào đó qua một mục tiêu khác (cơ quan).
6.9 Không được quyền trao tặng huy chương cho người thân trong gia đình, bạn bè.
Vũ Hoàng Anh Bốn Phương
Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)