Vùi Sáng Tạo Việt (P5)

Các người đã diệt:

Con chim thiêng hát lời Việt tộc

của Trịnh Công Sơn

Người đã vấn nạn được họa căn của Việt tộc thế kỷ vừa qua, chim thiêng hát lời mệnh bạc, còn là người nghệ sĩ biết dạy tình anh em cho dã thú giữa cuộc chiến tranh mà con người có lúc không giữ được nhân tính. Những câu anh tâm sự với bạn bè, sẽ hiểu Trịnh Công Sơn: «Tôi cần quê hương để sáng tác»; «Sáng tác là niềm vui lớn nhất để vượt thăng trầm»… Có lần Trịnh Công Sơn tâm sự: «Phải hiểu hai chuyện để sống và sáng tác: chuyện thứ nhất «vắng mợ chợ vẫn đông», không ai trên đời này là tối cần, là không thay thế được; chuyện thứ nhì «thiền giữa chợ» chấp nhận sống chung với đồng loại, là chấp nhận cái thanh phải chung chạ với cái tục, giữ được cái thanh, vượt lên cái tục… Thiền để tỉnh thức, để giữ lý trí sáng suốt nhưng cũng phải biết là cõi chợ là cõi hỗn nháo, nhưng không loại bỏ nó…», khoa học xã hội và nhân văn gọi những người có «gân cốt» phân tích đó là: chủ thể tri thức (sujet cognitif), biết mình biết người, biết vai vóc của cá nhân, biết tầm vóc của nhân loại.

Chủ thể tri thức tìm được cái lõi của cuộc sống, để khi trở thành chủ thể xã hội (sujet social) sẽ không bị các quy tắc tập thể hủy diệt mình, vì các chế độ độc tài, toàn trị luôn tìm mọi cách để diệt chủ thể. Chủ thể tri thức còn biết bảo vệ được chủ thể tình cảm (sujet affectif) để làm chỗ dựa của đời sống tâm linh cá nhân mình; chủ động được ba chủ thể này trong chuyện vật đổi sao dời của năm mươi năm đất nước biến loạn vì chiến tranh, dân tộc như bị thôi miên vì các ý thức hệ không đâu, không phải ai cũng làm được. Trịnh Công Sơn tặng cho dân tộc mình vài trăm ca khúc mà tầm cỡ tư tưởng, vai vóc diễn luận nghệ thuật thuộc loại tinh đẩu của ca khúc thế giới.

Chuyện lạ là dân tộc Pháp được nhân loại xem như một dân tộc trí thức, nhưng ca khúc của Pháp không trí thức; ngược lại có thể nhân loại xem dân tộc Việt Nam chưa trí thức, nhưng qua các sáng tác của Trịnh Công Sơn ca khúc Việt Nam đã rất trí thức. Trí thức theo nghĩa là dùng kiến thức để bảo vệ lý trí, tiếp đó sử dụng kiến thức lẫn lý trí để gây dựng đạo lý, sau cùng biết dựa trên đạo lý để sáng tạo ra cái đẹp, cái hay, cái lành đặt chúng cạnh cái đúng, cái thật, cái trong. Trịnh Công Sơn đã làm được tất cả chuyện này, Trịnh Công Sơn là đứa con tin yêu của dân tộc, trong sử Việt tộc mình chỉ có vài đứa con như vậy thôi.

Trịnh Công Sơn gần gũi gắn bó với thơ, từ ngay trong cách dựng vần tìm nhạc, làm cho biên giới giữa thơ và nhạc như không còn nữa, nhưng anh hiểu Antonio Gamoneda hơn ai hết: «la poésie n’est pas de la littérature. La poésie est révélation»,  thơ không phải là văn chương mà là chuyện khám phá để khai sáng, khai sáng các chân trời, khai sáng các số phận. Những năm chết chóc trước 1975. Vùng xương khô lên tiếng nói… Trịnh Công Sơn tìm được hình ảnh cho thơ để thơ là thơ, tức thơ là hiện hữu của khai sáng mặc dù kiếp người phù du. Một trăm năm như tiếng thở dài. Ý nghĩa sống giữa chết chóc chiến tranh nhiều khi không vượt được số phận Việt Nam oan khiên đắm chìm trong chuyện huynh đệ tương tàn từ 1954 tới 1975 mới dứt, xin cho mây che đủ phận người.

Các nhạc sĩ khác thích dùng hai chữ hoàng hôn, anh Sơn sử dụng hai từ tà dương, từng lời tà dương là lời mộ địa. Tà dương xuất hiện như đưa đẩy dân mình tới các chân trời thẳm, tới các cõi chìm. Những năm chiến tranh đó Trịnh Công Sơn nói rõ được nỗi đau của dân tộc. Một ngày như mọi ngày. Từng mạch đời trăn trối. Đau nặng từng lời nói. Lời thơ của anh còn vượt lên chuyện kể lể, mà theo Goethe thơ là sức nổi loạn để được sống còn bằng lời nói, vì lời nói là ý thức sống. Ta thấy em đêm đêm đòi lại tiếng nói, mặc dầu đạn về đêm đêm đốt cháy tương lai. Lời của anh nói lên lẽ sống đang phải trực diện với cái chết. Từng vùng thịt xương có mẹ có em.

Lời đây là lời của kiến thức mới chống lại cái tự hủy, cái diệt vong. Tôi mất trong chiến tranh này, bao nhiêu người tình… Người tình lớn lên từ ba miền… Những người tình chưa gặp một lần… Để hiểu thơ cận đại, có lần H.Michaux đề nghị mỗi bài thơ là một phân tích qua thực nghiệm, chữ trải nghiệm chưa đúng, thực nghiệm là nắm cái thực rồi nghiệm nó bằng lẽ sống của nhân loại nơi mà: «Tout poète connait cette impression rare: tout d’un corps et totalement se détacher de l’humanité et entrer dans un monde qui ne doit rien à personne ». Thi sĩ sẽ nhận ra được một ấn tượng hiếm: cả thân mình, toàn thể tự tách rời ra khỏi nhân loại để vào một thế giới (khác) mà thi sĩ chẳng phải nợ ai, chẳng phải mang ơn ai.

Trịnh Công Sơn biết các công thức thơ loại này, còn biết luôn cách thực hiện nó, nhưng anh không làm, vì giữa diệt vong anh đã thấy họa lưu vong của Việt tộc, nên Trịnh Công Sơn không muốn rời cái kiếp chung của đất nước, cái họa chung của dân tộc này. Mẹ ngồi ru con, nghe đất gọi thầm trọn nợ lưu vong. Có những kẻ bên này, bên kia chỉ trích hay phê phán lòng yêu nước của anh, hình như họ chưa có «thâm duyên» với dân tộc này. Muốn thâm với duyên phải sáng với trí, để thấy được đã có lần dân tộc phải chịu bao thăng trầm tủi nhục. Người nô lệ da vàng… ngủ quên… Người nô lệ da vàng… đi quên nước, quên non. Người nô lệ da vàng… xin áo, xin cơm…

Phải thấy được sự thật này mới biến nó thành ý thức để làm chỗ dựa cho lương tri, chỗ đứng cho nhân phẩm. Nghe xót xa hằn lên tuổi trời. Trẻ thơ ơi trẻ thơ ơi. Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người… Anh Sơn làm được hai chuyện, hai thử thách, một của Bo Carpelan «rester au centre de l’univers», tìm mọi cách đứng giữa vũ trụ trước mọi cơn lốc xoáy của thời cuộc, hai của Max de Carvalho «fixer les vertiges», nắm và thấu các chuyện làm con người choáng váng, để biết rõ lúc nào trái đất này sống được, lúc nào sống không được. Ghế đá công viên dời ra đường phố… Em bé lõa lồ suốt đời lang thang… 

Thế hệ trước Trịnh Công Sơn, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã báo động: «Chúng tôi tuổi trẻ đầu thai lầm thế kỷ», tới thế hệ của Trịnh Công Sơn, đã làm được chuyện tổng kết lịch sử thế kỷ thứ hai mươi chỉ bằng một câu, giờ đã thành dấu ấn trong tâm linh chúng ta: «Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì». Ngọn gió hoang vu nào đã mang theo cái ác, cái sai, cái tối vào thế hệ chúng ta, để rồi cái ác hà hơi cho cái bất công, cái sai bồi sức cho cái vô nhân, cái tồi nuôi dưỡng cái cúi đầu.

Nội lực thơ của Trịnh Công Sơn, vai vóc nhạc của Trịnh Công Sơn là chối từ dứt khoát không mang những cái này vào lương tri, cũng như không bao giờ chấp nhận mang hận thù. Một bàn cơm ngon, chiếu ghế không người. Mẹ bầy cho con với nước mắt rơi… Đường về phố lớn có đoàn quân đi tim không mang hận thù... Trịnh Công Sơn còn tự dặn mình đi để quên: «Khi đất nước tôi thanh bình tôi sẽ đi thăm… Đi để quên chuyện non nước mình…», đi đây không phải là vừa đi vừa cúi đầu, mà đi để mở ra con đường hoà hợp hoà giải dân tộc sau ngọn gió hoang vu huynh đệ tương tàn, vậy đã gần bốn mươi năm những kẻ lãnh đạo của chế độ thắng cuộc không làm chuyện đó, lời nhạc của anh vẫn chờ đợi chuyện đó để «Việt Nam ơi! Cho mắt nhìn rạch tan căm thù».

V.Hugo dặn thi sĩ hãy làm cho bằng được chuyện «devoir contenir la somme des idées de son temps », gồm cho bằng được mọi ý (lực) của thời mình. Thấy được mặt trời mới trong tầm nhìn tức khắc của mình. Mặt trời mặt trời đã lên, còn nhìn, còn nhìn thấy con người. Mặt trời là tương lai, Saint-Pol Roux nhận định không sai: «L’arbre de la poésie plonge ses racines dans l’avenir», cây thơ cắm rễ của mình trong tương lai, thi sĩ thấy được tương lai trước mọi người. Hãy còn bước đi cho bình minh lên sớm.

J.Coteau nói theo cách của ông: «Le poète se souvient de l’avenir», thi sĩ biết nhớ về tương lai, Apollinaire còn rõ hơn: «l’art de prédire», thơ là loại nghệ thuật nói trước, nói trước được vì đoán trước được, nói trước người, nói vượt đời, nếu tìm về tận Baudelaire thì sẽ thấy thơ là: «une sorcellerie évocatoire» như chuyện bùa phép khơi gợi, khơi lên cái đột biến, gợi lên cái thâm sâu, Trịnh Công Sơn có cách nói riêng cho mình: Người ôm lấy muôn loài. Nằm trong tiếng bi ai.

Nhạc của Trịnh Công Sơn là trí tuệ người cẩn trọng trước chính đổ vỡ của tâm hồn mình, thơ của anh đi tìm cái thức trước khi đi tìm tương lai, chống lại cái trôi chìm của tâm linh hiện tại, từ độ í a chim thiêng hót lời í a mệnh bạc… Từng giọt í a vô biên, trôi chìm í a tiếng tăm. Hót lời mệnh bạc là kiếp thi nhân của anh, trôi chìm tiếng tăm là nỗi lo mất ký ức của mình và của đồng loại.

Octavio Paz thấy trong mỗi bài thơ: «une mémoire devenue image, et image devenue voix», một ký ức đã thành hình ảnh, và hình ảnh đó đã thành lời, Trịnh Công Sơn còn nghe được cả lời ký ức của mình vang động mỗi đêm: Nhiều đêm thấy ta là thác đổ. Tỉnh ra có khi còn nghe. Paul Valéry nhìn rõ được trong thơ như có sự lưỡng lự, có cái phân vân: «l’hésitation prolongée entre le son et le sens», sự ngần ngại kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa, anh Sơn thấy phân vân có băn khoăn, thấy lưỡng lự như nỗi buồn bị kéo dài ra. Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo. Cái buồn trùm phủ cái vui, cái vui báo tình yêu vừa tới, cái buồn nhắc ngay là người yêu phải đi; cái vui nhẹ nhàng gởi tín hiệu của hạnh phúc, cái buồn áp đặt mật tin cái mất sẽ có mặt, vĩnh hằng không chỗ đứng trước phôi pha.

Thơ trong nhạc của Trịnh Công Sơn ở dạng tri thức cao -tri thức giữ cho trí thức thẳng lưng- của một chủ thể biết làm lắng đọng các biến loạn. Tôi tìm thấy tôi trên từng xót xa. Ta nghe đời rất mênh mông. Trong từng bước đi chầm chậm. Lấy sự thật làm lẽ phải, lấy kiến thức để bảo vệ ký ức, S.Mallarmé rất rõ trong chuyện này: «Les poètes seuls ont le droit de parler, parce qu’avant coup, ils savent». Những thi sĩ được quyền nói, vì họ biết trước mọi người là họ biết.

Gaston Bachelard, một triết gia yêu thơ, một nhà khoa học luận biết quý trọng linh hồn, linh hồn cái lõi của tâm hồn, một phạm trù đang bị thần kinh học tấn công tơi tả và xếp vào loại mê tính của siêu hình học, không có chỗ đứng trong khoa học; nhưng lấy gì thay thế linh hồn để làm nghệ thuật? Để bảo vệ tâm linh? Nên ông vẫn tin là: «La poésie nous apporte des documents pour une phénoménologie de l’âme», thơ mang lại cho chúng ta những tư liệu để ta gây dựng được một hiện tượng luận của linh hồn. Người chết nối linh thiêng vào đời. Và nụ cười nối trên môi. Trịnh Công Sơn hay tự nhắc mình là kẻ hát rong, hát lên những chóng chày của sinh linh (từ này của Phật giáo dùng để gọi chúng sinh là sự sống thiêng liêng).

Kẻ hát rong này đứng giữa biên giới, bên này là nhân tính, một bên kia là thú tính, biết làm được chuyện bảo vệ bên này, nhưng không chận bên kia, mà triết gia J. Derrida diễn luận là: «Cette question fondamentale des limites entre l’homme et la bestialité nécessite la déconstruction pour clarifier notre volonté du savoir d’enlever l’enclos qui enferme notre prétention de savoir et de prendre soin (animaux, fous, malades, marginaux…)». Vấn đề cơ bản trong ranh giới giữa cái người và cái thú đòi hỏi con người phải biết tháo gỡ lề thói tư duy cũ của mình để thấy rõ cái ý chí của con người là gạt bỏ hàng rào, cọc đóng đang giam tù cái kiêu căng hiểu biết của chúng ta, để giúp chúng ta chăm lo kỹ hơn (cho thú vật, cho người điên, cho người bệnh, cho những kẻ đang ngoài lề cuộc sống).

Trịnh Công Sơn thấy rõ chuyện này thời chiến: Người nằm co như loài thú khi mùa đông về. Hãy nối lại tình người, để nối lại môi cười, như anh đã mơ nối vòng tay lớn, nếu những kẻ lãnh đạo hiện nay là những đấng minh quân, họ sẽ lấy bài nối vòng tay lớn của Trịnh Công Sơn để làm quốc ca, để dứt khoát xoá sạch chuyện huynh đệ tương tàn, xây lại cơ đồ của Việt tộc qua lương tri, qua nhân phẩm. M.Foucault, triết gia của triết học chống chuyện hãm tù nhân tính, ông yêu cầu còn gay gắt hơn: «d’affranchir la pensée de ce qu’elle pense silencieusement et lui permettre de penser autrement». Vượt thắng tư tưởng khi nó đang lẳng lặng suy nghĩ và giúp nó tư duy cách khác; cách khác này Trịnh Công Sơn đã thấy, đã mơ: Một ngày kia dân ta đi dựng cờ. Dạy tình anh em cho dã thú.

Có những lời thơ bị người đời coi như không thực hiện được trong thực tế cuộc sống, nhưng lời thơ đã mở đường giữa đêm cho hy vọng lần tìm lối ra, tự người cứu người, chuyện ngoan đạo là vô ích, vì Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người. Y.Bonnefoy cảm nhận được dư chấn này của thơ, vì biết chỗ ở của nó: «… Je voudrais réunir, je voudrais identifier presque la poésie et l’espoir. Un possible apparait sur la ruine de tout possible, une attente dans la substance des mots: ils apparaissent aux confins de la négativité du langage comme des anges parlant d’un Dieu encore inconnu». Tôi gom lại, tôi muốn nhận ra thơ và niềm hy vọng. Một chuyện có thể có trên cái đã hoang tàn của những chuyện có thể làm được của đời này, đó là chuyện chờ đợi trong nội chất của chữ: chúng xuất hiện giữa lằn ranh của tính tiêu cực trong ngôn ngữ, thơ như lời các thiên thần đang nói về một thượng đế chưa có tên; Trịnh Công Sơn hiểu phân tích này, nhưng Trịnh Công Sơn biết từ tốn hoá thơ nhạc của mình.

Một ngày còn sống góp tiếng mong manh. Thật vậy, xung quanh ta mọi sự sống mong manh quá, cái chết có lúc ngang nhiên mơ mộng giữa đời. Nằm chết như mơ. Octavio Paz tìm được trong thơ vai vóc của con người vượt được cái chết: «une machine qui produit de l’anti-histoire. L’opération poétique consiste dans l’inversion et dans la conversion du flux temporel, le poème n’arrête pas le temps: il le contredit et le transfigure, toute grande poésie doit se confronter avec la mort et être une réponse à la mort». Có thể coi thơ như một nguồn máy chống sử, phương cách thơ nằm trong sự lật ngược hướng đi của thời gian, thơ không chận được thời gian nhưng nó nói ngược và nó biến dạng thời gian, thơ có tầm vóc lớn là thơ biết đối đầu với cái chết và có câu trả lời về cái chết.

Trịnh Công Sơn còn thấy cả cái hận thù, cái đau khổ, cái thờ ơ, báo cái chết đang tới để dân tộc anh mau tỉnh giấc. Người con gái Việt Nam da vàng… Em chưa biết quê hương thanh bình… Em chỉ có con tim căm hờn. Người con gái một hôm qua làng. Đi trong đêm, đêm vang ầm tiếng súng. Người con gái chợt ôm tim mình. Trên da thơm vết máu loang dần. Người con gái Việt Nam da vàng. Nhạc và thơ của anh thật gần gũi, làm rõ lên suy tư của A. Maumejean thấy qua hành động thơ: «Une cause irréalisable, de réduire la contradiction qu’un destin fatal impose à la condition de l’humain par le langage: l’usage d’une parole par laquelle nous sommes voués à l’inconnaissance».

Một nguyên nhân không khả thi, đã thu cái mâu thuẫn của số kiếp oan thiên rồi buộc con người qua ngôn ngữ: dụng lời để tự thú là mình vô minh. Bạn bè ngồi quanh tuốt sáng giáo gươm. Từng ngày đảo điên, giết chết linh hồn. Không ai có lỗi trên chuyện này, vì người khác, người ngoài áp đặt chuyện huynh đệ tương tàn bằng chiến tranh, dân tộc ta không chế tạo ra chuyện này, vậy mà ta đã chấp nhận tiếng bom đạn làm ta điếc tai, loạn óc như chấp nhận một nghiệp chướng. Ngày mới lớn tai nghe quen đạn mìn.

Trong quá khứ bọn xấu nói với ta là chiến tranh không thể tránh được, chúng ta hãy nói với các thế hệ sau ta là chiến tranh không thể chấp nhận được. Trong những cơn điên loạn, A.Artaud vẫn thấy thơ là «refaire l’homme», gây dựng lại được con người, vì nó là tác phẩm của chuyện thu hồi lại ý thức. Người về soi bóng mình. Giữa tường trắng lặng câm. F.Kafka, thấy được trong thơ một cố gắng vượt thoát để vượt thắng: «soulever le monde pour le faire entrer dans le pur, dans l’immuable, dans le vrai». Nhổ thế giới ra, nâng thế giới lên đưa nó vào cái sạch, cái vĩnh hằng trong cái thật. Tìm trong vô thường. Thấy có đôi dòng kinh sấm bay rền vang.

Những năm chiến tranh, nhạc của Trịnh Công Sơn như về từ cõi yên lặng khi con người tìm lại được tiếng nói của mình, loại tiếng nói của tri, của giác, của minh, chứ không phải nói để nói. R.Barthes (tác giả này, Trịnh Công Sơn rất thích, nên hay hỏi về các công trình của ông, hồi ông còn sống) kể là trên đời này có một loại nhạc rất thông minh: «la musique se tait toujours. Elle ne m’encombre d’aucun discours; elle ne veut rien substituer à mon malaise (ce qui serait le meilleur moyen de l’approfondir)». Loại nhạc luôn biết im tiếng, không dành làm tham luận, nó cũng chẳng muốn thay thế chuyện khó nhọc của người (chính nó là phương tiện hay nhất buộc mình phải đào sâu nó).

Trịnh Công Sơn có nhiều bài thuộc dạng này, chẳng hạn như bài Diễm Xưa, đã thành «cổ điển» đối với người nghe nhạc, thành «kinh điển» đối với người làm nhạc, một bài hát biết rõ mọi diễn biến của lòng người trong cả cuộc đời. Mỗi câu trong bài này là một kinh nghiệm không quên của một lứa tuổi. Khi hai mươi tuổi, bị thất vọng trong tình yêu, người ta hát: Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau, vì người ta còn tin. Khi bốn mươi tuổi, người ta hết tin, người ta hát: Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu. Khi gần sáu mươi tuổi, người ta hết tin và không còn quê hương để nương thân, người ta hát: Để người phiêu lãng quên mình lãng du. Nhạc tiên tri là nhạc có cái tri, cái giác, cái minh, có luôn cả cái đúng, cái bền, cái đời trong nó.

Đối với những bạn bè thân, Trịnh Công Sơn thường tâm sự: «Một trong những cái buồn nhất trên đời này là lỡ hẹn với bạn bè»; có kẻ vô tâm nghe nhưng không hiểu, lại còn «dạy đời trở lại», ngoài Bắc thì «hẹn nhỡ thì hẹn lại!», trong Nam thì «hẹn sai hẹn lại mấy hồi!». Chuyện lỡ hẹn của anh Sơn không phải vậy, người ta lỡ hẹn vì người ta bị chiến tranh cướp đi cuộc đời. Đất hoang vu khép lại hẹn hò. Bị o ép bởi chén cơm manh áo, người ta quên cả hẹn với tình. Em theo đời cơm áo. Mai ra phố xôn xao. Có khi người ta lỡ hẹn vì người ta bị cướp mất mặt trời, ánh sáng, đường đi tới nơi hẹn. Hôm nay thức dậy. Không còn thấy mặt trời. Lắm lúc người ta lỡ hẹn vì ngoan đạo, nhưng thờ ơ với tình. Vì em đã mang lời khấn nhỏ. Bỏ ta đứng bên đời kia.

W.Carlos Williams dặn đời là mỗi lần được đọc thơ phải thấy được: «Un univers complet en miniature. Il existe en lui-même. Tout poème de quelque valeur exprime la vie entière du poète, donne un reflet de ce qu’il est». Một vũ trụ đầy đủ nhưng bị thu nhỏ lại. Nhưng chính nó tự tồn tại. Mỗi bài thơ tự nó mang giá trị của cả cuộc đời thi sĩ, nó là bóng soi của thi nhân. Từ bóng qua hình trong nhạc của chính mình, Trịnh Công Sơn hoàn toàn không có sự thờ ơ với đời, lãnh đạm với tình, nguội lạnh với hẹn hò. Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn. Để sớm mai kia lại tiếc xuân thì. Nỗi lo chống lại sự thờ ơ, cái lãnh đạm, tư cách nguội lạnh không có chỗ đứng trong nhạc của anh, nỗi lo đã thành lời trong nhạc của Trịnh Công Sơn.

Chiều hôm thức dậy. Chập chờn lau trắng trong tay. Có bận có người hỏi V.C.Richez thơ có phải là một hành động không? Vậy hành động thơ là gì? Ông trả lời: «Rassembler le silence. L’épuiser… Se gorger lentement du monde souterrain, des terres sombres d’un très ancien abri… Une parole de silence qui se perd en soi… S’avaler, se défaire, consentir à cette perte…». Tập hợp yên lặng. Vắt cho tàn sức… Để tự nó nhễu thành từng giọt xuống lòng đất, trong miền tối tăm của một nơi ẩn trú cũ kỹ… một tiếng nói của yên lặng tự lạc đường… Rồi tự thoát, tự mở tung, để cuối cùng nhận cái mất mát này. Chuyện này sẽ không khó hiểu, vì Trịnh Công Sơn đã tổng kết được nó, làm rõ thành từng lời (yên lặng) trong nhạc của anh. Thừa đôi tay dư làn môi. Từ nay tôi quên hết tiếng người.

Trịnh Công Sơn thấy và thấu: «Trên cùng một đất nước, nhưng có nơi là đất chết, có nơi là đất sống, muốn sống phải có nội lực để sống còn, một force vitale, mỗi lần bị nhấn chìm là tự nó bật dậy, trồi lên, không ai làm nó chết đuối được, Sài Gòn đây là nơi có force vitale». Tưởng đày đọa được nó nhưng không đày đọa được, cùng lúc có nhiều nơi trên đất nước này coi như đã chết hoặc sắp chết. Đời sao im vắng. Như đồng lúa gặt xong. Như rừng núi bỏ hoangKhông còn không còn ai. P.Rozewicz tin là: «… La poésie de nos jours est une lutte pour respirer». Thơ thời nay là cuộc chiến đấu để thở, anh Sơn biết chuyện này, vì sáng tác của anh luôn bị đe doạ.

Trong tim tôi có lần. Một mùa ôi rất lạnh. Thở qua thơ là chuyện không phải của thể xác, mà là chuyện của linh hồn, S.Mallarmé thấy hồn người trong tiếng thơ: «Toute âme est une mélodie qu’il s’agit de renouer». Mọi linh hồn trong thơ là một nhạc điệu nối được người với đời, khuyên ta thoát càng sớm càng hay kiếp vong thân, vong linh. Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây. Từ thái độ sống của mình, thơ đã thành hành động thật, J.Bastaire tin vào hành động này: «Parole essentielle, libérée du bruit pour arriver à un silence qui parle», lời đã thành chủ yếu, giải phóng người khỏi tiếng động hỗn loạn để tới sự yên lặng đang nói, đang tâm sự với mình.

Yên lặng biết nói là chuyện của thơ, cũng là chuyện đời nghệ thuật của anh vì nếu con người biết sống mà không biết yêu thương thì nên giữ yên lặng là hơn. Hôm nay thức dậy. Không còn thấy loài người. Vây phủ quanh đời. Nói tiếng yêu thương… Như vừa mới vào đời. Tay mẹ đâu rồi? Nôi trống ru ai? Nôi trống là sự yên lặng vừa tuyệt đối, vừa đáng sợ, P.Celan tìm cách định thần chuyện này: «Le poème n’est pas intemporel. Certes, il élève une exigence d’infini, il cherche à se frayer passage à travers le temps – à travers lui et non par-dessus et toujours la tentation de trouver une direction». Một bài thơ không vĩnh hằng. Chuyện đó đúng, vì chuyện thơ đòi hỏi không ai lường được, nó tự vạch lối đi của nó qua thời gian – qua nó và không trên nó – luôn bằng ý muốn tìm ra được một phương hướng.

Trong nhạc của mình, Trịnh Công Sơn lấy chữ phù du làm cầu nối cho thơ và thời gian. Ôi! Phù du… một ngày kia đến bờ, đời người như gió qua. Chuyện phù du cũng là chuyện của A.Suied thấy được trong thơ: «Le poème ouvre le tremblement secret des âmes en éveil… Entre énigme et présence, le Poème énonce le destin et l’infinie liberté de l’aventure de chacun dans le monde inconnu et premier». Bài thơ luôn mở ra một cơn động đất bí mật giữa những linh hồn đồng điệu, cùng nhau thức… giữa bí ẩn và hiện tại, bài thơ báo lên số phận và sự tự do vô biên trong cuộc thám hiểm của mỗi người giữa một thế giới chưa được biết mà ta gặp lần đầu qua thơ. Bỗng tôi thấy em dưới chân cội nguồn, Nụ cười mong manh một hồn yếu đuối…

Câu chuyện phù du, cười mong manh, hồn yếu đuối chưa hết; giữa thơ và nhạc của Trịnh Công Sơn, xuất hiện một ẩn số thứ ba là họa, Trịnh Công Sơn thích vẽ, biết vẽ, có khi say vẽ, nhiều người đã thấy tranh của anh, nhưng hiếm người nhận ra Trịnh Công Sơn vẽ ngay trong nhạc của Trịnh Công Sơn, chẳng hạn như trong Tuổi đá buồn, rõ ràng portrait một cô gái cô đơn: hồn lẻ, nghiêng vai, gọi buồn. Loại câu sáu chữ, ba nhóm, mỗi nhóm hai từ này, tự nó đã đứng ở chỗ vừa sâu, vừa cao trong thi ca Việt Nam. Câu chuyện thơ để thở, thở bằng thơ cũng là chuyện của L.P.Fargue thấy được hành động thơ qua sức sáng tạo ra một cuộc đời song song cũng quý báu như cuộc sống hằng ngày: «La poésie, cette vie de secours où l’on apprend à s’évader des conditions du réel, pour y revenir en force». Thi ca, có cuộc sống bảo toàn thứ hai, nơi mà người ta học cách thoát ra khỏi điều kiện sống thực, để sau đó trở lại mạnh hơn.

Trịnh Công Sơn giúp đời thấy được tình yêu, làm cho kiếp mình mạnh hơn, dạng ra… Mặt đất âm u, ngày tháng hoang vu. Chợt thấy em qua, rợp bóng cờ… Chuyện con người vững vai vóc hẳn lên qua thơ được Ramos Rosa nhận định là: «La poésie établit un rapport entre le réel et l’inconnu, en restant dans la vie, cet acte suggère une aspiration vers le haut, mais il tend pour y parvenir à la résolution des contraires». Thơ dựng được một quan hệ giữa cái thật và cái ẩn, giữ nó giữa đời, hành động này là chuyện thăng hoa, nó thực hiện được bằng cách xử lý các đối chấp. Nghe nhạc của Trịnh Công Sơn người ta nhận ra: càng áp đặt chết chóc, chiến tranh, con người càng yêu nhiều, thương nhiều. Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ. Yêu để cuộc sống dễ thở. Reverdy gọi thơ là «bouche-abime du réel», miệng-vực sâu của cái thực. Cái thực biết nhận ra người, ra ta. V.Hugo có lúc thốt lên: «C’est insensé de croire que je ne suis pas toi». Thật không chấp nhận được nếu không tin tôi không phải là anh, là chị, là kẻ đối diện… Trong câu chuyện suy bụng ta ra bụng người này, anh Sơn luôn có cách nói âu yếm, thanh nhã hơn: Tôi là em mà em cũng là tôi. Trong nhạc của Trịnh Công Sơn con người luôn nhận ra nhau, bằng trực diện, mà không một bạo quyền độc dảng nào vùi lấp được, không một tà quyền độc trị nào khử trừ được, không một ma quyền độc quyền nào truy diệt được.

«… Em cứ yêu con người, đời ngọt ngào vẫn thế. Em cứ dâng cho đời một nụ hoa tình cờ. Em đến bên tôi ngồi, đời mở ra cuộc tình…». Yêu người vì yêu đời mà chính cũng để thương thân mình. Biết thương người, thương thân, biết dâng tặng đời là biết nâng cuộc sống lên, không để cuộc sống mất nhân tính; trong chiến tranh vừa qua có khi phải nâng cuộc sống lên từ vực thẳm, vực nó dậy từ hố sâu. Joyce xem hành động thơ như chuyện tiếp nhận trí thông minh của sự nổi loạn, nổi loạn để đòi tự do, chứ không phải nổi loạn để đập phá: «la poésie, même lorsqu’elle semble à son plus fantastique, est toujours une révolte contre l’artifice, une révolte, dans un sens, contre la réalité». Thi ca, ngay như lúc nó mang dạng giả tưởng nhất, nó luôn là cuộc nổi loạn chống chuyện vẽ vời, nó là cuộc đứng lên, nổi dậy, và trong một ý nghĩa nào đó, có chống lại thực tế.

Người Việt nói viết văn, nhưng làm thơ, không ai viết thơ, làm đây là làm cho ra chuyện, theo cách của R.Daumal: «La prose parle de quelque chose, la poésie fait quelque chose par des paroles». Văn xuôi nói về một chuyện nào đó, còn thơ thì làm chuyện đó bằng lời nói. Ta thấy em đêm đêm đòi lại tiếng nói, rồi thấy luôn Nghe tiền thân về chào bóng lạ, thấy được kiếp trước về chào tương lai mặc dầu lạ lẫm, vô định, vô phương. Nhạc của Trịnh Công Sơn có sức mạnh của một loại siêu hình học luôn đi tìm lối ra cho tâm linh. Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi? Triết gia Bergson, tin rằng ý thức luôn là một kinh nghiệm thân quen, trực tiếp trong hạn hữu đời người, cái hạn hữu này là một dữ kiện trực quan của ý thức.

Chuyện dân tộc lầm đường với độc đảng toàn trị hiện nay, biến những đứa con thành bụi đời trong lúc sống, rồi thành oan hồn sau khi chết là cuộc triển lãm đầu tiên về lối vào tri thức của chủ thể: thân là tro, đời là bụi, Trịnh Công Sơn thấu hiểu thấu chân lý vô thường này của Phật học. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi. Để một mai tôi trở về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài. Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi. Nhưng lẽ sống của nhân sinh luôn tìm cách đi ngoài cái chết, vì cái chết luôn tìm cách diệt cho bằng được lý tưởng của các giá trị vĩnh hằng, làm được chuyện này cái chết đe dọa luôn các giá trị khác của sự sống, tạo sự căng thẳng giữa chủ thể và những giá trị của nhân sinh; Trịnh Công Sơn thấy được chuyện này: Còn bao lâu cho thiên thu xuống trong thân này?

Cái nhún nhường của Lão giáo đã thâm nhập vào các bài thơ (không phổ nhạc) ở cuối đời Trịnh Công Sơn: Đường dài vỡ mộng vô thường. Ta xin một góc ta ngồi với ta. Carl Sandburg có cách giải thích thật lạ: «La poésie est le journal d’un animal marin qui vit sur terre et qui voudrait voler». Thơ là nhật ký của một con thú biển giờ phải sống trên đất liền rồi còn lại muốn bay. Thật ra chẳng có gì là lạ, đây là chuyện tự do của tư duy sáng tạo, chẳng có một chế độ nào, một ý thức hệ nào ngăn cấm được. Xin cho ngục tù thành những công viên. Lấy thơ dâng đời, rồi nâng cuộc sống «dở sống, dở chết» này, và nâng cả không gian tù rạc thành nơi quần chúng đến vui chơi, hẹn hò, Trịnh Công Sơn đã làm chuyện này.

Có lần Velter kể chuyện ngày thanh bình của tâm hồn trong thơ sẽ là ngày: «L’oeil contemple le bleu du ciel, la vue réfléchit, l’azur profond du corps… par le coeur, par le souffle, par le haut, l’excès trouve son équilibre». Mắt trầm mặc với màu xanh của trời, ánh nhìn biết suy nghĩ, màu xanh trong lắng thật sâu trong thân. Qua con tim, qua hơi thở, trên chiều cao, cái bị xem thái quá tìm được sự thăng bằng của mình. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về. P.Eluard cũng nhấn mạnh thêm về hành động thơ luôn để lại: «marges blanches, de grandes marges de silence, les mots du poète ne servent pas à dévoiler leurs sens immédiats mais à les contraindre à livrer ce que cache leur silence».

Những lề trắng, những lề lớn của sự yên lặng, chữ của thi sĩ không phải để vạch ra nghĩa tức khắc mà để ngăn hãm những gì mà sự lặng lẽ muốn giấu kín. Buồn như giọt máu lặng lẽ nơi này. Mambrino tin rằng: «langage silencieux qui efface ses propres traces, pour qu’on entende ce que les mots ne disent pas». Một ngôn ngữ yên lặng còn biết xoá chính dấu vết của nó, để người ta nghe được những chữ không đọc được. Mỗi vết thương lành một nỗi vui. Mắt cười mênh mông giữa đôi bàn tay. Vết thương lành, nỗi vui, mắt cười, đôi bàn tay… tất cả đây là những chốn không lời và sẽ không cần lời. Pasternak nhận ra được cõi lắng này: «la prose en action. La poésie est le langage du fait organique». Văn xuôi qua hành động.

Thi ca là ngôn từ của cơ chất, tức là của ruột thịt. Baudelaire tự dặn mình: «La poésie est ce qu’il y a de plus réel. C’est ce qui n’est complètement vrai que dans un autre monde». Thi ca là cái có hơn thật, chuyện này hoàn toàn đúng ở một thế giới khác. Mới hôm nào bão trên đầu. Thấy được chuyện mà người khác không thấy, M. Edwards gọi đó là lực nhập nội của thơ: «la poésie est le possible qui demeure possible, l’attente qui accepte d’attendre». Thơ là chuyện có thể luôn ở thế khả thi, nó là cái chờ biết đợi, sáng tác của Trịnh Công Sơn có sức nhập nội linh chuyển đó: lòng thật bình yên mà sao buồn thế. Giật mình nhìn tôi ngồi khóc bao giờ.

Cendrars phạm trù hoá được lực nhập nội này: «Chaque vie cache un destin, il y a des destins pour toujours, une épée tranchante. Parfois dans mes rêves, je vois la lumière de cet acier…». Mỗi đời cất dấu một số kiếp, có những kiếp được sống hoài, như dao sắc. Có lúc giữa cơn mê, tôi thấy ánh lên chất thép của nó. Malcolme de Chazal chia sẻ được kinh nghiệm này : « Le poète est un réaliste dans le plus haut sens spirituel du terme». Thi sĩ là kẻ theo chủ nghĩa hiện thực trong cái nghĩa tâm linh cao nhất của nó. Đường thật lặng yên mà sao buồn thế. Giật mình nhìn quanh ồ phố xa lạ. Brodsky nhận ra một điều trong thơ: «La poésie est essentiellement la recherche par l’âme de sa libération dans le langage», thi ca là cõi lùng tìm của linh hồn trong việc nó tự giải phóng qua ngôn ngữ.

Trịnh Công Sơn nói thật gọn: Tôi là ai mà còn ghi dấu lệ… Tôi là ai mà trần gian thế… Tôi là ai mà yêu quá đời này. Leclaire cảm nhận được nội lực này: «c’est faire parler la langue au-delà du sens… La langue étrangère que l’on entend au fond de soi » đủ sức nói được bằng ngôn ngữ trên luôn cả nghĩa của chữ, một ngoại ngữ mà người ta nghe được từ tận đáy hồn mình. Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui. Chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời… Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi. Nietzche thấy các triết gia mỗi lần nhập nội vào sự gay gắt của lý luận để tổ chức các quyết đoán trong lập luận của họ, là mỗi lần họ cần phải gần thơ để: «les sentences des poètes pour donner à leurs idées de la force et de l’authenticité». Để những câu đối của thi sĩ thổi vào ý triết một sức mạnh của cái chính thống. Thơ dâng đời để nâng thân, giờ thơ dâng triết để nâng người trước mọi thử thách của nhân thế.

Có lần Trịnh Công Sơn kể về một câu trong nhạc của anh: Này nhân gian có nghe đời nghiêng, chỉ một người quý yêu ra đi mà cả thế giới bị nghiêng đi, nhân loại bị lệch qua hướng khác. Ngay trong tình yêu muốn tìm tới các giá trị tâm linh để tình yêu tự nâng cao tình yêu cao hơn nữa! Và càng lên cao -thoắt chốc- (tức là: chợt) tình yêu khám phá ra: nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) đang có mặt giữa tình yêu của “đôi lứa”, lúc đầu chỉ tưởng là chỉ có “đôi ta”, tự nhiên bây giờ ở đâu ra một ẩn số khác: nội công của tình yêu là gì?

Sự sống còn của tình yêu tùy thuộc vào nội công này, tức là vào bản lĩnh của hai kẻ yêu nhau định nghĩa nhân tố thứ ba là gì? Kẻ thứ ba này là ai? Nó tác động gì đến chiều cao, chiều sâu, chiều rộng, chiều dài của tình yêu? Tại sao nó giúp ta kết chặt với nhau, không rời nhau được, mà nó còn biết “bền vững hóa” tình yêu, và chỉ có hai ta mới biết là có: nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) mà St Augustin khẳng định là nó đang ngự trị trên sự sống còn của “lứa đôi”.

Nhân tố thứ ba là gì? Kẻ thứ ba này là ai? Mà tại sao không có nó thì tình yêu sẽ chết yểu! Nếu chỉ có hai người thôi, hai kẻ yêu nhau thôi mà không có nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) này thì tình yêu sẽ gặp hai loại tai biến giết dần mòn tình yêu. Xin được trả lời ngay nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) chính là: giá trị tâm linh của tình yêu. Không có nó thì tình yêu sẽ gặp hai loại tai họa để thành tai biến bất cứ lúc nào, tai biến thứ nhất là chỉ thấy một cái tôi (narcissisme), kẻ chỉ biết yêu mình thôi thì bắt người mình yêu phục vụ cho mình. Tai họa thứ hai là tình yêu ích kỷ, chỉ thấy hai kẻ yêu nhau thôi và bắt thân thuộc, gia đình, tập thể, xã hội phục vụ cho tình yêu của mình, loại tình yêu ích kỷ này là thuộc loại độc tài toàn trị vi mô (micro-totalitarisme), biến môi trường chung quanh thành nô bộc cho mình, chỉ biết sống «cặp đôi» trong tháp ngà, trước giờ cơm thì bắt kẻ khác làm bếp cho mình.

Chỉ thấy cái tôi của một người, hay chỉ thấy hai người yêu nhau mà không thấy nhân loại chung quanh thì đây là loại tình yêu sẽ chết yểu, sẽ chết sớm, vì nó không biết tới nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) là khi tình yêu tự định nghĩa cho mình (để được sống lâu, sống bền, sống thọ với thời gian) thì tình yêu phải đi trên con đường của tình thương! Khi tình yêu đi tìm để tới được tình thương thì nó sẽ thành một dòng suối bền, một nhân lộ rộng: hai kẻ yêu nhau sẽ «có con» và «thương con» rồi chấp nhận mọi hy sinh để «lo cho con». Tình yêu khi tới được tình thương thì nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) đã có mặt giữa « lứa đôi », đúng ngay trung tâm của «đôi ta» và hai kẻ yêu nhau cần nhân tố thứ ba (kẻ thứ ba) này để đi xa hơn nữa, để gặp nhân phẩm của tình yêu! Đây mới chính là giá trị tâm linh đích thực của tình yêu.

Giá trị tâm linh này giúp hai kẻ yêu nhau biết sống chung với nhân loại, biết sống cùng với nhân sinh, biết chia sẻ nỗi khổ niềm đau với nhân thế, và khi tình yêu được giáo dưỡng bởi nội dung tâm linh này nó sẽ không chết yểu, chết sớm, vì cái tôi độc nhất và cái độc tài toàn trị vi mô đã cuốn gói ra đi, nên cuộc tình sẽ không bị đắp mộ! «Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ» là một ca từ trong một ca khúc mà Trịnh Công Sơn làm ra khi còn rất trẻ, nhưng chính nhờ tầm vóc của từ bi trong tâm hồn của nhạc sĩ nên ca từ nầy không những vén màn cho ta thấy bản lai diện mục nhân tố thứ ba là gì? Kẻ thứ ba này là ai? Câu trả lời là từ bi, là đại dương vừa rộng, vừa sạch, mà cái tôi ích kỷ hay hai cái tôi toàn trị vĩ mô chỉ là hai giọt nước đục!

Những tư tưởng gia như St Augustin, Plotin, Montaigne… hay các triết gia Kant, Pascal, Ricoeur… khi họ từ đi tìm con đường tâm linh để nhận ra các giá trị tâm linh thì họ có sẵn hai nhân lộ. Con đường thứ nhất bằng định hướng thần học, chóng chầy họ sẽ tìm tới thượng đế, đấng sinh thành của muôn loài và vạn vật; con đường thứ hai bằng định hướng của luân lý, đi tìm nhân tính bằng nhân phẩm. Nhưng dù đi trên hai đường khác nhau, nhưng họ thường tâm sự là họ đã gặp nhau trên: cái tôi thức để tin yêu.

Chính cái tôi thức để tin yêu này là một định luận có nhiều định đề khác nhau, và khi được hội tụ lại thì các giá trị tâm linh hiện rõ trong cấu trúc của định luận này. Trước hết là khi cái tôi mà muốn bỏ tự kiêu thì phải bỏ tự mãn, cái tôi mà muốn buông vị kỷ thì phải tháo đi ích kỷ, cái tôi mà muốn xua cái tự xem mình là trung tâm của vũ trụ đi thì phải đuổi đi cái ta đây ra khỏi nhân sinh quan… lúc đó mới mong được đi trên nhân lộ để thấy được các giá trị tâm linh.

Từ đây, cái tôi thức hoàn toàn ngược với cái tôi ta đây ngạo mạn, vì cái tôi đã tỉnh thức trong khiêm tốn vì từ tốn, của khoan dung để khoan hồng, của vị tha để vất hẳn đi cái tôi vị kỷ, đang ngủ trong mê lộ. Cái tôi thức có hành trình của tỉnh táo để sáng suốt của thức, lấy kiến thức để lập tri thức, có ý thức để tạo nhận thức. Đây là định nghĩa thông minh về chữ hiền, làm nên hiền triết, lấy hiền mà xoa diệu mọi điều hung, bạo, ác, dữ đang phùng man trợn mắt giữa nhân thế. Từ đây, cái tôi của chủ nghĩa trung tâm được nuôi nấng bởi cái ích kỷ đã được trút rũ khỏi não trạng, để trưởng thành mà nhận ra cái tôi thức, đã tỉnh thức trước thân phận con người, trong đó cái tôi vị kỷ thuở nào có số phận thật nhỏ bé của cát bụi (theo ca từ của Trịnh Công Sơn).

Cái tôi thức như vậy đã được chấp nhận, để được đi trên nhân lộ, để được gặp các giá trị tâm linh, với hai sung lực rất mới: niềm tintình thương, trong một biện chứng rất chặt chẽ: niềm tin vào tình thương và dùng tình thương với niềm tin. Đây là chuyện diệu kỳ của lý luận tâm linh: biến hung kiếp thành hiền tri, biến bạo phận thành hiền thân, chữ hiền là trung tâm của con tim tâm linh, cho phép con người càng yêu thì càng hiền. Như vậy, cái tôi thức đã trở thành cái tôi hiền, để tin yêu, để làm hiền đi mọi số phận, làm lành đi mọi nhân kiếp.

Từ đây trí hiền đã hình thành, rồi trưởng thành, và mạnh bước trước các thử thách, vượt được các thăng trầm, thắng được mọi ma trận của bất nhân thất đức luôn có mặt trong nhân sinh. Từ đó tỉnh táo để sáng suốt nhận ra các giá trị tâm linh, luôn hiền lành để trợ duyên cho cái tôi thức để tin yêu, có được một kết quả tinh khôi cho nhân thế hiền mà cũng chính là đúc kết tinh anh cho nhân phẩm hiền của chính mình: Tôi là ai mà yêu quá đời này? Triết gia Trần Đức Thảo hoàn toàn có lý khi viết trong hồi ký của ông là một chủ thể sáng tạo như Trịnh Công Sơn không thể nào thắng hoa và sống còn trong một chế độ độc đảng toàn trị chuyên môn truy diệt nhân tài.

Kinh Kim Cương trong Phật học khi soi rọi vào chúng sinh; nơi mà mọi sinh vật đều có sinh mạng mà ta phải tôn trọng và bảo vệ, vì mọi sinh mạng đều thiêng liêng, vô cùng linh thiêng (nên Phật giáo mới đặt tên chúng sinhsinh linh). Gốc cội của chúng sinh được làm nên từ các chất liệu của môi sinh (sỏi, đá…) tưởng là không thuộc về chúng sinh, nhưng chúng ta phải có cái nhìn vô tướng để thấy môi sinh vừa là nguồn cội, vừa là sự sống còn của chúng sinh, của mọi sinh mạng, của tất cả sinh linh. Vì vậy, câu hỏi của Trịnh Công Sơn có chiều sâu tâm linh của nó: làm sao em biết bia đá không đau? Nếu ta biết chúng sinh có những nỗi khổ niềm đau trong nhân sinh, thì ta được quyền đặt câu hỏi ngay trên thượng nguồn là khoáng thạch (sỏi, đá…): có biết đau không?

Đây là câu hỏi đặt ta vào con đường để đi tìm các giá trị tâm linh. Khi biết hỏi không những tha nhân, đồng loại, đồng bào, mọi chủng loại mà còn biết hỏi luôn sỏi, đá (luôn bị người trần mắt thịt xem như loại vô tri) là sỏi, đá: có đau không? thì hùng lực tâm linh đã ngự trị giữa tâm hồn ta, để ta không những làm được chuyện yêu muôn loài, mà còn giúp ta cảm nhận rộng hơn để thương mọi loài. Như vậy, không có môi sinh thì không có chúng sinh, nếu chỉ yêu chúng sinh (tưởng như đã đủ, nhưng thật ra chưa đủ), mà ta còn có thể thương thêm nữa: thương môi sinh đang nuôi nấng, che chở, song hành cùng ta trong cuộc sống.

Câu chuyện môi sinh chính là câu chuyện môi trường, đây là sự thảm bại vô cùng tận của ĐCSVN-Đảng cộng sản Việt Nam, độc đảng để độc tài nhưng bất tài trong tận cùng của vô minh, vô tri, vô giác đã mở cửa cho bạo quyền của lãnh đạo qua các nhóm lợi ích, cho tà quyền tham quan trong mê lộ của tham nhũng, cho ma quyền của Tàu tặc đang tàn hủy môi trường Việt, đang truy diệt môi sinh Việt. Các giá trị tâm linh có mặt trong nhân sinh để chống cơn hạn của nhân thế, khi môi sinh bị hủy hoại, khi môi trường bị truy diệt, cơn hạn của nhân thế đang tới, và trong cơn hạn này nhân sinh không có môi sinh để sống còn, nhân loại không những sẽ chết khát, mà còn chết nhục trong cõi quỵ gục của môi trường.

Vùi Sáng Tạo Việt (P6)

Lê Hữu Khóa

Giáo sư Đại học * Tiến sĩ quốc gia trường gia Cao học khoa học xã hội Paris * Tiến sĩ xã hội học Đại học Nice-Sophia Antipolis * Giám đốc Ban Cao học châu Á * Giám đốc biên tập Anthropol-Asie * Chủ tịch nhóm Nghiên cứu Nhập cư Đông Nam Á * Cố vấn Chương trình chống Kỳ thị của UNESCO – Liên Hiệp Quốc * Cố vấn Trung tâm quốc tế giáo khoa  Paris * Cố vấn thẩm định giáo dục và nghiên cứu đại học Bourgone-Franche-Comté * Biên tập viên tập chí Hommes&Migrations * Thành viên Hội đồng khoa học bảo tàng lịch sử nhập cư * Thành viên Hội đồng khoa học Viện nghiên cứu Đông Nam Á * Hội viên danh dự nhóm Thuyết khác biệt, Học viện nghiên cứu thế giới. 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s