Tìm Hiểu Tài Liệu Duy Dân Cơ Năng (P9)

Đồ hình về Cơ Năng Hiến Pháp trong Duy Dân Cơ Năng

Trong Duy Dân Cơ Năng ngoài phần bài viết có thêm Hình (1-8) nhưng thực chất chỉ một hình chữ nhật với chữ bên trong. Vậy những Hình đó diễn tả những gì? Tại sao có sự xuất hiện trong Duy Dân Cơ Năng và có đem lại mục đích mong muốn của tác giả (LĐA) hay không?

Trong Hình 1

Cơ Năng Hiến Pháp

Chính Trị và Hành Chính.

  1. Lập quốc quy mô: Quốc sách nguyên tắc chính trị.
  2. Lập quốc tung lý hành chính, hành động hành chính.”

Như vậy chủ ý là mô tả cơ cấu Cơ Năng Hiến Pháp gồm 2 phần: Chính trị và hành chính với 2 nhiệm vụ: (1) Lập quốc qua quốc sách về các nguyên tắc chính trị. (2) Lập quốc từ trên xuống dưới (tung lý: lý luận trên hàng dọc) về hoạt động hành chính.

Trong hình 2

“Cơ Năng Hiến Pháp

Quốc dân đại hội

Sáng chế—-Phúc quyết—- Tuyển cử—Bãi nhiệm

Chính

Chính Trị Nghiên Cứu Viện (thượng tầng ý thức) —Lập Quốc (chính trị)—Tổng Văn Hóa Viện (cơ sở kế hoạch chính trị)

Trị

Pháp trị:  Lập Pháp—Hành Pháp–Tư Pháp                                                       

Nhân sự: Quan Chính—Khảo Thí—Giám Sát

Như vậy theo hàng dọc thì Quốc Dân Đại Hội trên hết với quyền: sáng chế, phúc quyết (quyết định), tuyển cử (chọn người) và bãi nhiệm (sa thải). Dưới kế là các bộ phận nghiên cứu, lập quốc chính trị (?), kế hoạch chính trị thuộc về CHÍNH. Vậy CHÍNH là chính yếu hay “chính trị”? Nếu ở dưới là TRỊ thì có lẽ Chính đi với Trị. Tầng CHÍNH có nghĩa là quyền và TRỊ là phần hành. Giải thích này vẫn không ổn thỏa bởi những cơ quan ở Trị cũng có thể giải thích là quyền bởi họ có quyền để làm luật hoặc xử án ai đó. Hình hai này có sự mâu thuẫn khi so sánh với Chính Trị Tổng Cơ và Hành Chính Tổng Cơ bên Cơ Năng Hiến Pháp trong tài liệu Duy Nhân Cương Thường. Ai đó vẽ hình này chứ chẳng phải do chính LĐA bởi Nghiên Cứu Viện thực tế nằm bên Hành Chính và viện này bao gồm cả văn hóa. Đây là một viện rất quan trọng trong Cơ Năng Hiến Pháp nếu nhìn vào nội dung trách nhiệm của viện này.

Trong hình 3

Cơ Năng Hiến Pháp

“    1. Trung ương, gián tiếp: Dân chủ tập quyền

  1. Địa phương, trực tiếp: Dân chủ phân quyền
  2. Trung khu, vừa trực tiếp vừa gián tiếp (quốc dân đại hội cử ra, toàn dân bỏ phiếu, Xu Mật Viện dùng người, các viện phụ trách với Đại Hội).”

Lối giải thích về từ ngữ dân chủ tập quyền hay dân chủ phân quyền không hợp lý. Trung ương là ai? (trung ương là bộ máy chính quyền lo cho cả nước, tức là những cơ cấu trong Cơ Năng Hiến Pháp. Tập quyền bởi khi có pháp lệnh thì áp dụng cho toàn bộ quốc gia. Nói chung cái gì thuộc dạng quốc gia thì sẽ nằm ở trung ương giải quyết chứ không phải địa phương) Bộ phận nào? Nếu là Quốc Dân Đại Hội (Trung Tâm Hội Nghị) thì do các Công Dân Tầng kết hợp đại diện cho quyền lực quốc gia (về Lập Pháp) mà đại diện là Quốc Trưởng (tập quyền). Nếu Quốc Trưởng có quyền chỉ định, bổ nhiệm, miễn chức các Tỉnh trưởng, Hạt trưởng trong khi Huyện và Xã do công dân cử thì đó là gì? “Phân quyền” vì người địa phương cai trị địa phương? (phân quyền phải hiểu ở đây là Trung Ương và Địa Phương. Địa phương có quyền hành để giải quyết vấn đề mà họ đối diện tại địa phương. Cách giải quyết cho phù hợp với thực tế địa phương đó, chính quyền Trung Ương không thể nào xen lấn vào. Tuy nhiên, khi chuyện địa phương ảnh hưởng đến địa phương khác thì chính quyền Trung Ương sẽ tham dự. Thí dụ địa phương xây một đập nước ở thượng nguồn, vì sẽ ảnh hưởng đến hạ nguồn ở địa phương khác, chính quyền Trung Ương sẽ tham dự vào quyết định của chuyện xây đập này). Hay “Tập quyền” vì vẫn tùy thuộc quyền Quốc Trưởng? Nếu đã gọi là tập quyền thì cả hệ thống là tập quyền (phân quyền cũng vậy) còn nếu đã nửa nọ, nửa kia thì không nên gọi là tập hay phân quyền mà chỉ nên nói là hỗn hợp (hybrid). Không nên vì danh từ nghe kêu mà khiến rối ý người đọc.

Còn Trung khu là ở đâu? Dĩ nhiên không phải Trung Ương (tập quyền) và cũng không thuộc địa phương (phân quyền). Điều kiện nào để có “trung khu”? Sự thực hiện trung khu (quốc dân đại hội cử ra, toàn dân bỏ phiếu, Xu mật viện dùng người, các viện phụ trách với Đại Hội) có giống như là thực hiện Trung Ương và địa phương không? Nếu khác thì tại sao, mục đích gì để làm khác?

Nếu đã không khác thì lập ra “Trung khu” để làm gì? Là một trái độn giữa “Trung ương” và “địa phương” để tránh xung đột? Hoặc cũng có thể là một khu tự trị trong nước cho nên gọi là trung khu?

Trong hình 4

“Cơ năng Hiến pháp

  1. Quốc Dân Đại Hội: Quốc gia, quốc dân sinh mệnh: phổ biến tồn tại (hoành)
  2. Xu Mật Viện: Quốc gia, quốc dân sinh mệnh: viễn đại tồn tại (tung)
  3. Chính Trị Nghiên Cứu Viện: Quốc gia, quốc dân nguyên tầng (bình diện)
  4. Lập Pháp Viện: chính sách thiết kế
  5. Hành Chính Viện: chính sách thực thi
  6. Tư Pháp Viện: xã hội quy ước bình phân
  7. Quan Chính Viện: cán bộ sáng tạo
  8. Khảo Thí Viện: cán bộ vận dụng
  9. Giám Sát Viện: Hành chính cơ năng đốc đạo.”

Vậy chúng ta biết thêm Quốc Dân Đại Hội là trục Hoành, Xu Mật Viện là trục Tung. Vậy vai trò Quốc Trưởng nằm đâu? Nếu trong phần bài viết nói rằng Xu Mật Viện phụ giúp Quốc Trưởng điều hành các viện qua Tổng Lãm đoàn thì trách nhiệm của Quốc Trưởng giống như vai trò Thủ Tướng (chỉ giữ một số nhiệm vụ giới hạn) như vậy Xu Mật Viện và các viện bên dưới sẽ làm việc gần như trực tiếp với Quốc Dân Đại Hội hơn là Quốc Trưởng. Tuy nhiên nếu dựa vào Cơ Năng Hiến Pháp trong tài liệu Duy Nhân Cương Thường thì Xu Mật Viện phụ giúp Quốc Trưởng bởi đây là cơ cấu giống như bên Tổng Thống gồm có các bộ như quốc phòng, ngoại giao, quân đội, lao động v.v… Quốc Trưởng là người điều hành quốc gia cho nên không thể nào điều hành mà không có những cơ quan này phụ giúp để điều hành. Xu Mật Viện dĩ nhiên mục đích chính là để phụ giúp Quốc Trưởng tuy nhiên, dưới cơ chế Duy Dân, tất cả các cơ năng trong bộ máy cầm quyền lệ thuộc vào nhau để hòa hợp tạo một sự hòa hợp tổng thể từ đó mới tạo ra một quốc gia có thế lực từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, từ dân đến quan đều là một để cùng nhau kiến thiết và chấp hành nhân sinh.

Sự giải thích các vai trò của các viện trong hình cũng không hợp lý.

Lập Pháp Viện: chính sách thiết kế? Lập pháp có nghĩa là thiết lập pháp luật, luật lệ. Mà luật lệ thì khác chính sách (policy), trong khi nguyên tắc có tính luật nhưng có thể sửa đổi nội bộ. Cơ Năng Hiến Pháp trong tài liệu Duy Nhân Cương Thường đã nói rõ trách nhiệm của Lập Pháp Viện và trong đó gồm cả thiết kế chính trị và hành chính. Quốc Dân Đại Hội chỉ thông qua luật chứ không làm luật. Tất cả luật đều phải do Lập Pháp Viện làm ra và đưa qua Quốc Dân Đại Hội (Trung Tâm Hội Nghị) phê chuẩn trước khi luật được áp dụng vào trong quốc gia.

Hành Chính Viện: chính sách thực thi (trách nhiệm thừa hành của cơ quan này nói rõ và nhiều hơn trong Cơ Năng Hiến Pháp ở tài liệu Duy Nhân Cương Thường)

Tư Pháp Viện: xã hội quy ước bình phân? Ai đặt ra xã hội quy ước bình phân? Viện trưởng do Quốc Dân Hội Nghị chọn, pháp quan (quan tòa) theo ngạch tuyển. Vậy ai quyết định tuyển? Theo ngạch có nghĩa là có học, thi tuyển nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp sau cách mạng thì luật học của thời trước cách mạng có thể áp dụng cho chế độ mới hay không? Đó là chưa nói về Tu Dưỡng Thắng Nhân. (Bình Phân theo tự điển là chia đều nhau. Có nghĩa là bộ tư pháp có trách nhiệm để bảo đảm quy ước của xã hội được áp dụng đồng đều chứ không phải chỗ này xử như thế này, chỗ khi xử khác dù cùng một sự kiện; hoặc chỗ này được giải thích luật được áp dụng như thế này nhưng ở chỗ khác luật áp dụng khác. Thành ra ý nghĩa của xã hội quy ước bình phân là như thế và dựa vào luật để vị thẩm phán có quyết định)

Quan Chính Viện: cán bộ sáng tạo? Được hiểu là đào tạo cán bộ quốc gia (thí dụ trường Quốc Gia Hành Chánh của VNCH) thì đào tạo cán bộ đúng hơn là “sáng tạo” cán bộ. (sáng tạo cũng có thể mang ý nghĩa là sáng kiến để đào tạo cán bộ)

Khảo Thí Viện: cán bộ vận dụng? Ở đây có 2 nghĩa: (1) sử dụng nhân sự (cán bộ) qua khảo thí, khảo hạch để xem khả năng, kiến thức, thái độ phù hợp với công việc nào. (2) thi tuyển người (aptitute test), chọn người trước qua một số tính chất cần thiết rồi huấn luyện sau. (Trách nhiệm này của cơ quan Quan Chính Viện trong Cơ Năng Hiến Pháp. Tại sao lại nằm trong phần Khảo Thí Viện này. Đây là một thí dụ cho thấy mâu thuẫn giữa các tài liệu)

Giám Sát Viện: Hành chính cơ năng đốc đạo? Nếu Giám Sát Viện gần nghĩa với Kê Sát Viện thì không phải là hành chính đốc đạo mà phải là thanh tra, kiểm tra các hoạt động hành chính (còn chính trị thì sao?) từ bên ngoài guồng máy nhìn vào, không thiên vị ai. Còn “đốc đạo” chỉ là giám đốc (quản lý, điều hành) chính sách, kế hoạch (đạo) từ bên trong điều hành có thể đi đến tình trạng “Phủ bênh Phủ, Huyện bênh Huyện” (Đốc có nghĩa là đốc thúc, xúi, dùng lời lẽ giục người. Còn Đạo là đường, cách làm. Nó cũng giống cùng một ý nghĩ (trách nhiệm) của Kê Sát Viện trong Cơ Năng Hiến Pháp. Dĩ nhiên cơ quan này chỉ kiểm soát về mặt hành chánh, tư cách các quan lại trong nước để xem có vi phạm luật, nhân phẩm đạo đức hay không để cơ quan Quan Chính Viện hoặc Tư Pháp Viện có biện pháp trừng phạt bất cứ cá nhân nào trong bộ máy cầm quyền. Trong khi đó về chính trị thì có Phê Phán Công Đường làm chuyện kiểm soát về mặt chính trị).

Trong Hình 5

“   1. Cơ năng điều chỉnh: quyết định, kế hoạch, chấp hành, khảo hạch, bồi dưỡng liền nhau.”

Không thấy nói là trong phạm vi từng bộ, viện hay cả hệ thống. Vì nếu Viện, Bộ trưởng quyết định thì dễ nhưng nếu phải là từ trên (Tổng Lãm, Trung Tâm Hội Nghị, Phê Phán Công Đường) đưa xuống thì có thích hợp hay không?

  1. Chủ quản (quyết định), chức viên (chấp hành), mạc lieu (kế hoạch), khảo hạch (bồi dưỡng)

Phần này phải chăng muốn nói “chủ quản” là người quyết định; “Chức viên” hay viên chức là người chấp hành; “mạc liêu” hay thư ký là người lo kế hoạch (điều này không đúng vì “thư ký” là người lo sổ sách, “kế hoạch” là do người có óc tổ chức, kiến trúc bộ máy, cơ sở. Hai công việc hoàn toàn khác nhau và đòi hỏi kiến thức khác nhau; “khảo hạch” là người truy xét khả năng của đối tượng có phù hợp với công việc hay không, như vậy thì không thể gọi là “bồi dưỡng”. Nếu nói là khảo sát để biết trình độ tới đâu thì sẽ cho bồi dưỡng, tu học thêm thì có vẻ hợp lý hơn.

  1. Chủ quản cơ quan: Đặt mạc liêu chế (tức thiết kế) và thực hành (tiểu tổ thảo luận)

Ở đây nói người điều hành cơ quan (giám đốc, quản lý, chủ sự) sẽ đặt “mạc liêu” (thư ký) chế như là thiết kế bộ phận (phân công việc?) và “thực hành (tiểu tổ thảo luận)”? “thực hành” là hành động, “thảo luận” là bàn luận (lý thuyết). Hành động không thể là lý thuyết được. Hành động chỉ có thể biểu thị một phần nào lý thuyết mà thôi. Nếu nói là thảo luận để thực hành thì đúng hơn. Chẳng lẽ LĐA lại viết ngôn ngữ lủng củng như vậy?

  1. Các cơ quan đều thực hành: Trung khu liên tịch hội nghị

Đây muốn nói đến các cơ quan trong chính quyền (từ làng xã đến trung ương) phải thực hiện Trung Khu Liên Tịch hội nghị? Trung khu nào? Có bao nhiêu trung khu? Trung khu theo hàng dọc hay hàng ngang (bản vị, cơ năng)? “Thực hành” điều gì? (phải chăng mọi phán quyết từ Trung Khu Liên tịch hội nghị?) nếu mọi việc phải chấp hành từ trên xuống dưới thì đó là “tập quyền”, “phân quyền” có can thiệp được không?.

  1. Hành chính các hạng liên tịch hội nghị

Vậy là có nhiều hạng “liên tịch hội nghị”. Mỗi hạng liên tịch hội nghị sẽ được quyết định bởi Trung Khu? hay Quốc Trưởng? Phê Phán Công Đường có quyền can thiệp, phê phán hay không?  Khi nào thì cần có Liên Tịch Hội Nghị? Để giải quyết vấn đề gì? Ai sẽ khởi xướng hội nghị? Một trong các đơn vị địa phương hay từ cấp trên đưa xuống? Hình này nói lên sinh hoạt hành chính, công việc điều hành và nếu đúng như thế có cần nằm trong Cơ Năng Hiến Pháp?

Trong hình 6

“I. Chính Trị Căn Nguyên

  1. Số lượng: tài số, vật lượng, hiệu suất
  2. Pháp chế: mưu lược, kế hoạch vật dụng
  3. Nhân sự: nuôi người, dạy người, thành tạo
  4. Sinh sản
  5. Thổ địa”

“Căn nguyên” là gốc. Vậy gốc của chính trị là “số lượng” có hiệu suất (chất lượng) hay không vì nhiều khi số đông mà chất lượng kém thì vô dụng. “Pháp chế” là có mưu lược, kế hoạch gì không. Cho dù ít người, vật nhưng nếu có mưu lược, biết sử dụng thì vẫn làm nên sự nghiệp. “Nhân sự” trong mọi biến cố của xã hội con người không phải ai cũng sẵn sàng hành động. Do đó việc “nuôi người, dạy người, đào tạo nhân sự” là rất cần thiết cho tương lai của tổ chức, chính quyền. “Sinh sản” hay phát triển là điều kiện cần thiết để tồn tại và như vậy phải có đất (thổ địa) hay căn cứ, địa bàn hoạt động. Đây là cái nhìn tổng thể của LĐA về cái gọi là Chính Trị Căn Nguyên. Đây chính là những cái quan trọng để tạo ra một nền chính trị bền vững, một quốc gia mạnh. Thiếu những thứ này chính trị sẽ thất bại.

II. Chính trị Khu Hữu 

Chủ Kế-Chấp pháp-Chủ viên-Chủ công-Chủ Thực-Khách kế-Chủ Địa

Các bộ phần này được trình bày trong Cơ Năng Hiến Pháp như là “Chỉnh Lý Cơ” (Chính Trị Phù Bật trong tài liệu Duy Dân Cương Thường). Vậy thì “khu hữu” khác gì “chỉnh lý cơ”? Tại sao cùng nội dung, nhiệm vụ mà mỗi phần trong tài liệu đều là từ LĐA ra mà lại dùng khác tên gọi? Những chi tiết lộn xộn như thế cho thấy không thể từ LĐA ra mà chỉ có thể là người sau thêm bớt mà phần kết thúc vẫn đề là “Thái Dịch LĐA”. Sự phổ biến tư tưởng LĐA, hầu hết, đều do các đảng viên Duy Dân thực hiện. Một số các phụ bản I, II (trong Huyết Hoa) hay trên Thangnghia.org viết ra dưới bút hiệu (Thái Đạo, Thái Thư, Thái Kinh Dương…) có thể hiểu như là đảng viên (có tuyên thệ). Việc đảng viên phổ biến tư tưởng của người sáng lập (LĐA) là tất yếu. Nhưng viết lại hay diễn giải phải chịu trách nhiệm với thời gian và dân tộc chứ không thể cứ tiếp tục để là “Thái Dịch LĐA” thì đó là tiếm danh hay ngụy tạo tài liệu. Sự thêm vào mà không hợp lý gây ra khó khăn cho người đi sau khi tìm hiểu. Đó là sự phá hoại chứ không phải là xây dựng.

Trong hình 7

Phân Mệnh (quốc tế bản vị) Tam Nhân chủ nghĩa

Phân công (dân sinh bản vị) Lục Dân chính sách

Phân lợi (nhân cách bản vị) Toàn dân sinh chính trị, Toàn dân quân quốc dân giáo dưỡng.

Đại đồng chính trị

Thực hiện chính trị

Kế hoạch chính trị

Nguyên tầng chính trị

Mục đích của Phân Công, Phân Mệnh, Phân Lợi là để thực hiện “đại đồng” chính trị? Phải chăng “đại đồng” không phải chỉ trong một nước, quốc gia mà là nhân loại, thế giới. Vì vậy sự “Phân Công, Phân Mệnh, Phân Lợi” khởi đi từ trong phạm vi quốc gia nhưng mục tiêu cuối cùng là phải hoà đồng với thế giới.  Nếu ngay từ Hiến Pháp của quốc gia đã không nhắm tới sự chung sống hòa bình với thế giới thì đợi đến khi “phát triển” hay “suy tàn” thì mới đưa tay ra với thế giới thì sẽ không còn thích hợp nữa. Đa số các Hiến Pháp chỉ phục vụ quốc gia địa phương mà quên đi giai đoạn chót là tiếp xúc với thế giới. Khi tiếp xúc với thế giới mà cơ chế quốc gia không thể hòa đồng được thì sao? Một là ép các quốc gia khác phải theo mô hình của mình, sẽ mất thời gian, xung đột? Hay rút về sống một mình là điều khó thực hiện. Tại sao phân mệnh lại dựa vào tam nhân (nhân bản, nhân tính, nhân chủ)? Phân mệnh phải chăng biết rõ tài năng của mình — mà để làm chuyện này cần phải có sự tu dưỡng để hiểu rõ ở chính mình và đặt mình vào đúng vị trí của xã hội. Phải chăng khi tu dưỡng thì kiện toàn tam nhân? Còn phân công phải chăng nói đến đặt đúng vị trị vào 6 chính sách của lục dân (dân tộc, dân đạo, dân văn, dân trị, dân sinh, dân vực)? Còn phân lợi ở đoạn này phải chăng nói đến cái quyền lợi của mọi người tham gia sinh hoạt chính trị và giáo dục?

Trong hình 8

  1. “Quyền lực: Quốc dân đại hội.”
  2. “Chính trị: Quốc dân Xu mật viện.”
  3. “Hành chính: 6 viện chính thuật và kỹ thuật.”

Theo quan hệ của các viện thì mỗi viện độc lập, chịu kế hoạch, đốc đạo của Xu Mật Viện. Ở đây một lần nữa cho thấy vai trò của Quốc Trưởng không phải là then chốt trong cấu trúc công quyền của chủ nghĩa Duy Dân mà là tập thể: Quốc Dân Đại Hội, Xu Mật Viện và 6 Viện. Đúng ra Quốc Trưởng là bộ mặt đại diện của quốc gia. Quyền hành của Quốc Trưởng (hay các cơ năng khác) vẫn phải phụ thuộc vào toàn bộ hệ thống Cơ Năng Duy Dân. Nếu nhìn vấn đề theo Cơ Năng và Bản Vị thì để có một bản vị quốc gia lành mạnh thì phải lệ thuộc vào cơ năng của hệ thống quốc gia với nhiều cơ quan, nhiều thành phần trong xã hội. Cấu trúc này hoàn toàn khác với cấu trúc của các quốc gia trên thế giới. Có thực hiện được hay không lại tùy thuộc vào sự tu dưỡng của những người trực tiếp tham gia vào hệ thống sinh hoạt chính trị của quốc gia ở các cấp độ từ xã đến trung ương.

Kết luận

Chúng ta thấy qua 8 hình có vẻ là tóm lược các điều khoản trong Hiến Pháp nhưng lại tạo một số khác biệt (Trung Khu, không nói tới vai trò Quốc Trưởng, các hạng liên tịch hội nghị). Nếu LĐA chủ ý đưa ra đồ hình thì có lẽ phải rõ ràng, mạch lạc hơn là tạo nghi vấn. Vậy hoặc là bỏ toàn bộ đồ hình hay phác họa lại. Mặt khác nếu không có các đồ hình thì giá trị của chủ nghĩa Duy Dân có thay đổi hay chăng? Chúng tôi cố gắng tìm hiểu và so sánh phần chữ và phần hình để lọc ra những gì chính yếu có thể hiểu và sử dụng được cho thời đại 2000s. Những ai quan tâm đến bản “gốc” vẫn có thể theo dõi trên ThangNghia.org (tuy gọi là “gốc” nhưng vẫn thường xuyên thay đổi và không có ai lên tiếng chịu trách nhiệm kể từ 2016 là khi chúng tôi biết đến và tìm hiểu LĐA).

Trần Công Lân

Tháng 2 năm 2020 (Việt Lịch 4899)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s