Cơ Năng Hiến Pháp không dựa vào sự phê bình, điều tra của giới báo chí, truyền thông mà do cơ quan Phê Phán Công Đường (C), do dân, từ dân, bởi dân chọn lựa không qua đảng tranh. Có phê bình trung thực thì mới thấy sai lầm để sửa, không còn nạn “áo thụng vái nhau” hay “cãi chày cãi cối”.
Cũng như luật pháp do Lập Pháp Viện soạn ra như một đơn vị hành chính, không có quyền tự soạn luật rồi quyết định ban hành. Trung Tâm Hội Nghị (B) là tối cao lập pháp sẽ quyết định ban hành luật. Như vậy sẽ tránh được đảng nắm đa số sẽ làm luật theo ý riêng và thông qua kèm theo các đặc quyền (pork barrell, earmark).
Trong khi đó quyền tư pháp (Tư Pháp Viện) chỉ là bộ phận giúp Quốc Trưởng (A) xử án luật cùng với Kê Sát Viện thanh tra mọi việc. Như vậy toàn bộ các cơ quan thuộc A chịu sự phê phán từ C và do luật từ B quyết định. Các đảng chính trị tranh quyền chỉ nắm được A và điều hành đất nước dưới sự chi phối (đan quyền) của nhân dân qua B và C.
Trớ trêu của sinh hoạt dân chủ là phải độc lập (tôn giáo, chính trị, kinh tế) thì mới tự chủ. Một khi theo đảng chính trị hay tôn giáo thì đã mất độc lập thì làm sao thực hiện dân chủ? Lãnh đạo chính trị khi cầm quyền thì luôn luôn nghĩ rằng ý kiến của mình đúng. Mọi phê bình sẽ bị phản bác.
Làm sao có sự phê bình công bình để có ích lợi chung? Phải chăng phê bình từ dân là tối hậu? Có dân đồng ý, tham dự thì kế hoạch có cơ hội thành công. Nếu thất bại thì dân không đổ lỗi cho lãnh đạo và ngược lại. Đó là đặc điểm của C. Cơ chế đan quyền cho thấy tuy Quốc Trưởng nắm (bổ nhiệm, điều hành) các bộ, viện nhưng không độc quyền thao túng mọi việc khi các bộ, viện chỉ là hành chính (làm nhiệm vụ giao phó).
Các bộ trưởng, viện trưởng không độc quyền hành động theo ý mình hay Quốc Trưởng vì có C phê bình, phán xét và B quyết định. Ý nghĩa đan quyền vì mỗi bước hành động của chính quyền đều có sự tham dự của dân qua B và C. Sự kiện này khác với phân quyền cho phép hành pháp cứ làm rồi kiện tụng tính sau.
Khác biệt của hệ thống đan quyền là chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, hạt, xã) do Trung Tâm Hội Nghị các cấp điều hành với luật địa phương cùng với tỉnh trưởng do Quốc Trưởng bổ nhiệm (từ lãnh đạo), nhận lệnh từ trên, có giám đốc tự trị thi hành. Huyện trưởng do dân cử (từ dân), tự trị với luật địa phương. Hạt trưởng do Huyện trưởng đề nghị (từ lãnh đạo), điều hành với luật địa phương. Xã trưởng do dân cử (từ dân), tự trị với luật địa phương (từ dân). Sự xen kẽ quyền (đan quyền) điều hành các cấp (tỉnh, huyện, hạt, xã) về việc nước giữa “dân cử” và “lãnh đạo chọn” cho thấy không phe nào kiểm soát hệ thống chính trị toàn quốc bất kể bao nhiêu đảng chính trị tranh quyền tại trung ương.
Giống như “phép vua thua lệ làng” của VN ngày xưa giúp xã hội tránh được sự cưỡng ép khi chịu chung một khuôn khổ (one side fit all). Mô hình này giúp tránh được tình trạng khu vực kỹ nghệ (thành thị) sẽ nắm đa số uy hiếp khu vực nông nghiệp (nông thôn) hay khu vực tôn giáo A có đa số sẽ lấn áp khu vực tôn giáo B có ít dân. Vì sự chi phối vòng tròn của ABC và điều kiện đạt tới đồng thuận tại địa phương để sống chung nên người dân thường trực liên quan đến sinh hoạt chính trị thay vì đi bầu xong là quên, phó mặc cho đại diện dân cử tung hoành.
Đó là chưa nói đến Cơ Năng Hiến Pháp cho phép sửa (tu chính) Hiến Pháp 10, 30 năm là cơ hội cho dân tham dự “quyền” cai trị đất nước trên căn bản Hiến Pháp chứ không thuộc các đại diện dân, chậm chạp và ù lỳ cho tới khi thấy cơ hội làm giàu. Đan quyền được thực hiện từ Vĩ mô đến Vi mô mới gọi là Đan quyền.
Kết
Khác biệt giữa “phân quyền” và “đan quyền” là sự can thiệp hay tham dự của dân đối với việc làm của cấp lãnh đạo. Sự kiểm soát quyền giữa các ngành Hành pháp, Lập pháp, Tư pháp có vẻ là “đan quyền” nhưng không phải vậy vì chỉ là “đại diện dân” khi vui thì làm (thỏa thuận) khi buồn thì bỏ qua, cho tới luôn (move forward).
Khi một đảng nắm 3 ngành thì “đan quyền” trở thành tập quyền (độc tài). Đan quyền thực sự khi người dân có thể can thiệp vào sinh hoạt của “đại diện dân” một khi họ làm không đúng ý dân (chứ không chờ tới mùa bầu cử hay biểu tình phản đối). Khi dân tham dự phê bình, tường trình trước công chúng qua các ủy ban Giám Sát Viện, Trung Tâm Hội Nghị (B), Phê Phán Công Đường (C)… thì đó là nhân dân tham dự chứ không còn tùy thuộc đảng, tôn giáo hay phe nhóm tài phiệt nào có thể điều khiển khối nhân sự có mặt trong các bộ phận khác nhau, đa dạng như vậy.
Chuyện dân có khả năng chuyên môn để can thiệp vào việc làm của các Bộ, Viện là phụ. Chính yếu là can thiệp quyết định chính trị của lãnh đạo có ảnh hưởng toàn quốc. Ngăn ngừa trước hơn là sửa chữa sau khi đổ bể. Với phân quyền thì dân không làm gì được lãnh đạo đang nắm quyền cho dù phê bình, phản đối, biểu tình thì thay đổi được bao nhiêu? Chúng ta đã thấy khi thỏa thuận không còn thì đảng A nắm quyền phá hết những gì đảng B đã thực hiện cho quốc gia và xã hội (và ngược lại) tuy rằng vẫn nhân danh “dân chủ, tự do”và quyền lợi quốc gia.
Với đan quyền thì đã có cơ quan phê phán và tổ chức từ dân (trung tâm hội nghị) quyết định về lý (luật pháp) và sự (việc làm) của chính quyền trung ương. Chiến tranh hay hòa bình (kinh tế) sẽ do dân quyết định vì dân sẽ phải hy sinh chứ không còn là do đại diện dân quyết định (sai lầm) và dân gánh chịu để rồi chờ dịp khác, đại diện dân sai lầm nữa?
Thắng hay thua, luật từ trung ương có hợp ý toàn dân thì dân sẽ theo hoặc sẽ qua Phê Phán Công Đường (C) để thay đổi cho phù hợp với thực tế. Luật địa phương thì các cấp Tỉnh, Huyện, Hạt, xã cũng đã tự trị. Chỉ có hợp lòng dân thì mới thành việc vì nhân sự của Trung Tâm Hội Nghị cũng phát xuất từ Tỉnh, Huyện, Hạt, Xã. Nếu Tỉnh, Huyện, Hạt, Xã không có dân chủ, đồng thuận thì đã không có tự trị và đó chính là “dân chủ đáy tầng” và từ ngữ “đan quyền” mới có giá trị. Châm ngôn “đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết” mới đúng khi cấp lãnh đạo không thể chỉ hô hào đoàn kết khi nguy biến, cần dân, còn khi có lợi thì bỏ dân lo vơ vét cho bản thân.
Trần Công Lân
Tháng 9 năm 2025 (Việt lịch 4904)