Con người vốn đam mê quyền lực. Quyền từ cấp nhỏ không được kiểm soát sẽ tạo cơ hội cho cá nhân lạm dụng để thăng tiến và khi đạt đỉnh cao thì khó ngăn chận. Kiểm soát quyền lực đến từ cá nhân đòi hỏi tu dưỡng cao độ và thường trực nên không mấy ai đạt được trừ khi là nhà tu chân chính. Do đó kiểm soát quyền lực đến từ bên ngoài là cần thiết nhưng đòi hỏi phương pháp và cơ cấu thực hiện.
Sinh hoạt dân chủ Mỹ dựa vào phân quyền: Hành pháp, tư pháp, lập pháp trên hệ thống liên bang với cử tri đoàn cùng với sự phân biệt giáo quyền và chính quyền. Tuy nhiên hệ thống lưỡng đảng lấn áp các đảng nhỏ, yếu và thay vì cân bằng quyền lực (đối lập thống nhất) đã biến thoái ra tranh quyền và triệt hạ lẫn nhau.
Sinh hoạt dân chủ tạo cơ hội cho dân chọn đại diện chính quyền xây dựng xã hội. Phân quyền chia quyền lực ra 3 ngành kiểm soát lẫn nhau. Nhưng khiếm khuyết (hay sai lầm) là sau khi cầm quyền (qua bầu cử) thì dân bất lực khi đại điện dân đi ngược ý dân. Vậy khi một đảng trong hệ thống lưỡng đảng, nắm cả 3 ngành thì phải chăng đó là độc tài dưới danh nghĩa “dân chủ”?
Đan quyền là cơ chế tạo cơ hội cho công dân (dân) tham dự qua phê bình và kiểm soát chính quyền (đảng lãnh đạo) qua việc chọn người, làm luật và thi hành luật. Bài này sẽ phân tích lổ hổng của hệ thống phân quyền ra sao tại Mỹ, tuần sau sẽ có bài nói về Đan Quyền.
Hiến pháp Mỹ với khẩu hiệu “vì dân, do dân, bởi dân” đã quy định cơ chế chính quyền theo phân quyền: Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp với nhiệm vụ khác nhau và kiểm soát lẫn nhau. Các nhà sáng lập tin rằng phân quyền sẽ duy trì công bằng và dân chủ cho nước Mỹ như một kiểu mẫu cho thế giới. Đa số tin như vậy cho tới khi thực tế hiện tại cho thấy không phải vậy. Cuộc khủng hoảng dân chủ Mỹ bắt đầu từ thập niên 1990s khi sinh hoạt lưỡng đảng chuyển từ hợp tác sang bất hợp tác, từ thỏa thuận đến kình chống lẫn nhau, từ đối lập chuyển sang thù hận như kẻ thù. Có nhiều nguyên nhẫn dẫn đến suy thoái dân chủ mà chúng ta có thể ghi nhận.
Hiến pháp
Khi Hiến Pháp cho phép tự do ngôn luận đi cùng với quyền có vũ khí thì người sáng lập nghĩ rằng có vũ khí để bảo vệ tự do nhưng không nghĩ là kẻ xấu dùng vũ khí để cướp đoạt tự do người khác hay nói láo để sở hữu vũ khí đi làm bậy. Cũng như khi luật cho phép “quyền không tự thú” (5th) thì xã hội làm được gì để duy trì an ninh. Khi luật pháp (tòa án) trừng phạt cá nhân hay cơ quan mà không có sức mạnh thi hành thì đâu là hiệu quả?
Khi Quốc Hội ra trát lệnh (subpoena) mà đương sự bất tuân lệnh, chịu ở tù vài tháng rồi tổng thống ân xá thì giá trị của trát lệnh ra sao? Vì không có lý thuyết chung (cương thường, chủ nghĩa, triết học) dẫn đường thì sinh hoạt dân chủ bế tắc với hiến pháp lỗi thời theo thời gian. Điển hình là sự phán quyết của Tối Cao Pháp Viện (TCPV) bác bỏ quyết định của tiền nhiệm.
Vậy ai đúng, ai sai khi diễn giải hiến pháp? Nhất là khi các luật gia lợi dụng kiến thức chuyên môn để tạo khó khăn (mê hồn trận) với kỹ thuật pháp lý khiến người dân không còn ý thức được sự công bằng của sự phán quyết thì lời cam kết bảo vệ hiến pháp của giới lãnh đạo, và sự tôn trọng hiến pháp của người dân có còn giá trị nữa không?
Nên nhớ hiến pháp Mỹ xuất hiện khi nhân quyền của thổ dân, nô lệ chưa có và tuy là Hiệp Chủng Quốc xác nhận nhân quyền nhưng đa số khởi đầu là cho người da trắng gốc Âu Châu và nạn kỳ thị chưa xuất hiện. Tuy là quốc gia của những người di dân nhưng các nhà sáng lập Mỹ đã không hình dung ra một nước Mỹ thay đổi khi đa số dân da màu chiếm đa số và nạn kỳ thị trở nên gay gắt sau nội chiến.
Cho đến khi có nhân quyền thì hiến pháp đã không nói đến nhân quyền của công dân Mỹ khác các dân tộc khác? Phải chăng hiến pháp Mỹ tuy thực hiện bởi các triết gia, tư tưởng, chính trị gia tài giỏi, tâm huyết nhưng chưa nắm được yếu tố con người, xã hội và thiên nhiên cho nên nghĩ rằng tạo môi trường tốt đẹp (dân chủ, tự do, thịnh vượng…) sẽ giúp phát triển những con người tốt cho đến khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện.
Lưỡng đảng
Hiến pháp Mỹ không quy định lưỡng đảng. Tuy đa đảng nhưng các đảng nhỏ bị chèn ép bởi hai đảng lớn theo thời gian phát triển thành “đối lập” để thay nhau cầm quyền. Khi thịnh vượng vì thời thế có nhân tài thì chưa thấy khuyết điểm cho tới 1970s. Khi vai trò lưỡng đảng vững chắc (không sợ đảng nhỏ vươn lên) thì tham vọng xuất hiện.
Lãnh đạo đảng nhìn ra qua cử tri đoàn (kẻ thắng lấy hết: winner take all) thì hơn thua chỉ xảy ra tại một vài tiểu bang dao động (swing states) bởi một số cử tri độc lập. Để tranh giành số phiếu nhỏ (nhưng quyết định cuộc bầu cử) này, cả hai đảng đã dùng chiến tranh tâm lý tối đa, tung hỏa mù, điều tra tâm lý của khối cử tri mập mờ (swing vote) đang muốn gì để hứa hẹn. Khi lãnh đạo lưỡng đảng chọn chủ trương “bảo thủ” đối lại “tiến bộ” để tạo thế cân bằng cho cử tri chọn lựa đã là một khuyết điểm lớn đưa đến chia rẽ sau này.
Từ sự gian lận Watergate của Nixon dẫn đến từ chức khiến đảng Cộng Hòa tìm cách lấy lại vai trò lãnh đạo 1980s. Nhưng lại thua đảng Dân Chủ 1992, Cộng Hòa tìm đủ mọi cách phá để giành lại 2000s bằng mọi thủ đoạn, kể cả sử dụng những nhân sự có dã tâm riêng (quyền lợi của các tổ chức tài phiệt ủng hộ đảng). Khi thiếu nhân tài quan tâm về đất nước thì hai đảng sử dụng những kẻ cơ hội kích động những ích kỷ, thù hận, kỳ thị trong quần chúng.
Luật lệ của đảng cũng rất lỏng, bất cứ ai ủng hộ chủ trương của đảng là có thể ra tranh cử. Mọi hứa hẹn với cử tri miễn sao thắng cử bất kể quá khứ như thế nào. Chủ tịch đảng không có sức để lèo lái chính sách mà chỉ điều hành, tổ chức sinh hoạt mỗi mùa bầu cử. Tiếng nói của đảng tùy thuộc ứng cử viên tổng thống được số đông ủng hộ.
Vì không có lý thuyết chỉ đạo nên đảng bị giằng xé bởi vai trò “hướng dẫn quần chúng” hay “chạy theo tâm lý quần chúng” và cuối cùng bị giới tài phiệt lũng đoạn. Khôi hài nhất là khi đảng viên đắc cử, nửa đường nhiệm kỳ, bỏ đảng A chạy sang đảng B mà không bị ngăn cấm, trừng phạt. Vậy lỗi tại đảng hay tại cử tri? Khi bỏ phiếu ban hành luật chỉ khác 1 phiếu thì thiệt hại vì sai lầm người, phiếu hay luật không nghiêm chỉnh?
Sự phân chia Tả (tiến bộ) và Hữu (bảo thủ) là một màn hỏa mù được phụ diễn để đánh lạc hướng cử tri. Tất cả giá trị về chủ trương của lưỡng đảng tạo nên tranh chấp giả tạo trong sinh hoạt dân chủ (khiến dân có vẻ làm chủ nhưng chỉ là bị vận dụng một cách khéo léo). Khi đảng A dùng kẻ thù như mối đe dọa an ninh quốc gia để kiếm phiếu thì đảng B dùng các vấn đề xã hội phản công. Có ai nói rằng cả hai đều cần thiết nhưng đã bị lạm dụng? Cũng như kinh tế là trách nhiệm của chính quyền và là mối quan tâm của dân, bất kể chính kiến, nhưng khi đồng tiền và tin giả lũng đoạn bầu cử thì lá phiếu mất giá trị.
Câu hỏi căn bản cho các đảng chính trị: (1) đảng lãnh đạo dân hay dân lãnh đạo đảng? Đảng lãnh đạo dân thì khác gì cộng sản. Đảng đại diện dân thì phải theo ý dân (khi hứa hẹn) cớ sao làm theo ý của giới tư bản. (2) Nếu kỷ luật đảng không chặt chẽ khi nhận đảng viên, ứng viên trước khi cầm quyền thì sức mạnh nào sẽ ngăn cản đảng (với thành phần xấu) cầm quyền cả 3 ngành “phân quyền”? (3) Nếu lãnh đạo đảng không phải là chủ tịch đảng mà là người của đảng đang cầm quyền (trong Hành Pháp, Quốc Hội) thì hóa ra chủ tịch bù nhìn và kẻ may mắn thắng cử (vì cử tri đoàn cho phép kẻ thắng lấy hết). Cũng vì hơn chút ít phiếu mà nắm cả 3 ngành mà dân không có cơ hội can thiệp thì đó là dân chủ một chiều (sai thì ráng chịu, move forward, eat it).
Phân Quyền (P2)
Trần Công Lân
Tháng 9 năm 2025 (Việt lịch 4904)