Ý Nghĩa của Tự Do Ngôn Luận (P2)

Quyền là gì nếu không phải là quy định giới hạn trong sự tương tác của con người trong xã hội. Quyền cho phép và quyền ngăn cấm. Tự do ngôn luận không thuộc loại nào cả vì sự hiện diện của nó là cạm bẫy dân chủ: (1) Nó là phương tiện của kẻ chưa cầm quyền muốn khích động quần chúng để cầm quyền. (2) Nó là phương tiện của kẻ đã cầm quyền muốn khích động quần chúng để bảo vệ sự quyền lực đang có. (3) Thế nhưng tiêu đề của nó được gán cho dân (là kẻ cầm quyền đi trao cho người khác cai trị), cho đến khi dân ý thức đó là cạm bẫy và sửa sai thì dân chủ, phân quyền vẫn chỉ là trò hề chính trị.
Điều hiển nhiên là khi sai lầm mà không tìm ra nguyên nhân để tránh thì sẽ sai lầm nữa. Đó là giải quyết theo khoa học. Khi khoa học, lịch sử đã xác nhận thì triết học (lý luận) sẽ nói gì? Các chính trị gia đã né tránh triết học vì sợ rằng triết học sẽ đưa ra sự thật và chính trị gia không thể gian lận được. Đó là điều kiện để chính trị gia giao phần đạo đức cho tôn giáo và phần lý luận cho tâm lý học. Đó là tự do không ngôn luận.
Khi lãnh đạo chính trị chỉ kêu gọi quần chúng tiến về phía trước mà không xét tới nguồn gốc của biến cố xảy ra trong xã hội thì đó không phải chính trị mà là tà trị. Theo thời gian, ngụy quyền bởi tà trị sẽ hướng dẫn quần chúng tới những suy nghĩ sai lầm mà vẫn nghĩ là đúng (populism, pragmatism). Vì thiểu số quá khích, cực đoan thường là thiếu suy nghĩ, hành động theo cảm tính trong khi đám đông ôn hòa, thụ động, phản ứng chậm cho nên giới chính trị khai thác tâm lý quần chúng để lợi dụng và tự do ngôn luận là một tiền đề rất tốt để “gây rối”.
Hệ thống chính trị phân quyền của Mỹ đã dẫn chính trị, kinh tế, xã hội rơi vào sai lầm trầm trọng khi tin rằng những nhà tư bản là khôn ngoan (mới làm giàu) sẽ lèo lái nước Mỹ trở nên vĩ đại một lần nữa mà không hiểu cái vĩ đại quá khứ ra sao. Vì nền dân chủ Mỹ chỉ tin vào kết quả mà không tin vào Mệnh (tử vi, âm-dương, tướng số) nên chọn bất cứ ai lãnh đạo hứa hẹn điều họ đang mong mỏi. Điều đó phù hợp tự do ngôn luận không có trách nhiệm.
Vì tự do ngôn luận không có trách nhiệm nên lưỡng đảng với sự phân chia Tả-Hữu không tìm ra lối giải quyết vấn đề, khi thỏa hiệp thất bại thì chỉ còn chia rẽ, hận thù. Trong khi tôn giáo thay vì kêu gọi yêu thương, đoàn kết thì giới lãnh đạo tôn giáo đẩy mạnh ảnh hưởng chính trị, văn hóa, giáo dục… để lấy lại “lãnh thổ” khi tín đồ suy giảm vì mất niềm tin.
Tiếc thay nỗ lực đó chỉ đem lại quá khích, mù quáng. Nền dân chủ sẽ đi về đâu khi đa số tin rằng điều sai lầm là sự thật, khi chối bỏ chứng cớ (fact), phê bình? Và ngay cả tự do ngôn luận của người khác vì chỉ có những gì họ nói (làm) mới đúng còn kẻ khác họ nói (làm) là sai. Cũng như khi họ là thiểu số thì họ nhất quyết chống đa số là sai và nhất quyết chống tới cùng, đe dọa bạo động, ly khai, đổi luật chơi. Khi thua cũng ăn gian, thắng cũng ăn gian thì dân chủ không thể tồn tại.
Nếu tự do ngôn luận là “gốc” của dân chủ thì ngọn là gì? Phải chăng là kinh tế thị trường? Để có thể làm giàu nhanh và bằng đủ mọi cách thì nói (tự do ngôn luận) đúng hay sai đều phải làm ra tiền, tạo công ăn việc làm; còn tất cả tội ác, phá sản, mất nhà, việc làm… hãy để pháp luật lo (nếu bắt và xử được). Đó là điều khiến nước Mỹ vĩ đại: Giàu, Mạnh trước. Kiện cáo, đạo đức tính sau (tùy theo trường hợp = case by case basis). Tuy nói vậy nhưng thực tế thì cả chính quyền và tôn giáo đều đẩy mạnh chuyện giáo dục trẻ em theo đường lối có lợi cho chủ trương đã vạch ra. Nếu đã không tôn trọng sự thực thì cố tình gian lận với thế hệ sau qua “giáo dục” gian lận (che giấu sự thực) có ích gì? Hay vì cố tình tin là đang “nắm sự thật” qua cách nói láo mãi sẽ thành sự thật?
Cũng nhìn từ một góc cạnh khác: Tôn giáo. Nếu tôn giáo có tự do ngôn luận và có đạo đức, biết lý luận triết học thì tại sao không nhìn ra thiếu sót của xã hội tự do ngôn luận? Phải chăng (1) tôn giáo đồng lõa với hệ thống chính trị dân chủ tự do ngôn luận như đã từng cộng tác với vương quyền để có thêm tín đồ, vua có thêm đất và nô lệ? (2) Lời Chúa (Phật) nói về nhân quyền không có trong kinh điển? (3) Vì tự do ngôn luận nên lãnh đạo có thể giải thích cho phù hợp tình thế và tiến về phía trước (move forward). (4) Vì trong tôn giáo không có cách mạng để lật đổ giáo hội như trong chính trị cho tới khi tín đồ nhận diện tôn giáo, giáo hội là giả dối vì (các) đấng sáng lập đã (đều) nói “hãy đứng dậy mà đi”. (5) Tôn giáo đối đãi mọi người như nhau cũng như chính trị kêu gọi nhân quyền nhưng thực tế thì khác vì tự do ngôn luận tin vào nói láo?
Khi cả nước Mỹ không ai (kể cả giới truyền thông) nói tới vì sao hiến pháp cho tự do ngôn luận mà không cấm nói láo (hay không nhìn tới hiến pháp các nước dân chủ khác). Phải chăng ngoài lý do chơi nổi còn có mục đích tạo cho con người hiểu lầm và gây xung đột, tranh cãi từ đó giới chính trị mới xuất hiện để “lãnh đạo” quần chúng tìm hòa giải.
Có thể chấp nhận hiến pháp liên bang “mở rộng” tự do ngôn luận hai chiều (nói thật và nói láo) nhưng tại sao hiến pháp tiểu bang không thể bổ túc “địa phương X xác định tự do ngôn luận là cấm nói láo”? Một xã hội “thiên đường” (cộng sản) khi không còn chính quyền vì dân chủ tự trị sẽ khiến chính trị gia thất nghiệp sẽ là giấc mơ dân chủ không tưởng? Đó cũng là mâu thuẫn của Tả Hữu trong chính trị Mỹ khi: Tả muốn giúp dân (nghèo) thì tăng cường hoạt động của chính phủ. Hữu cho rằng cắt giảm chính quyền để dân (giàu) tự trị. Cả Tả lẫn Hữu đều quên rằng dân là một, tuy rằng có giàu nghèo, nhưng dân thay đổi khi có cơ hội.
Chính trị (đảng) chia Tả Hữu để tranh quyền thì gây xung đột trong xã hội khi địa bàn là dân (giàu, nghèo) thay đổi. Hạ tầng thay đổi mà thượng tầng không đổi thì đưa đến xung đột cấp lãnh đạo vì Tả không thể biến thành Hữu và ngược lại. Đó là cái ngu xuẩn của lưỡng đảng khi phân chia Tả Hữu.
Hậu quả của tự do ngôn luận giả tạo dẫn đến kết quả giả tạo. Chế độ cộng sản cũng là “tự do, dân chủ” giả tạo gây bất đồng giữa dân và (một) đảng độc tài. Khi người dân không sống (nói) thật thì mọi thành quả chỉ là bọt bèo. Bạn có thể nào sống, nói láo với vợ con (hay bị họ nói láo), hàng xóm nói láo, và cả nước nói láo?
Trần Công Lân
Tháng 9 năm 2025 (Việt lịch 4904)

 

Bình luận về bài viết này